Điện thoại:(024) 37823877 - 092.8846879

Văn hoá phát triển

GẦN SÁU MƯƠI NĂM, BÀ VẪN ĐỢI ÔNG VỀ…

Thứ sáu , 07/08/2026 | 14:37 GMT+7
Gần sáu mươi năm kể từ ngày liệt sĩ Lê Đình Tế nằm lại nơi chiến trường, bà Lê Thị Nha vẫn sống trong căn nhà đơn sơ ở thôn Minh Nguyên, nay là thôn Minh Thọ, xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ở tuổi 92, sức bà đã cạn, lời nói chẳng còn tròn câu, nhưng trong đáy sâu ký ức của người vợ liệt sĩ dường như vẫn nguyên vẹn một cuộc đợi chờ. Đó không chỉ là nỗi mong ngóng của riêng bà, mà còn là tình nghĩa thủy chung của một gia đình đã dành gần trọn đời người để hướng về người lính ra đi từ mùa đông năm ấy.  

Trở lại miền đất cũ
Hơn 5 giờ sáng chủ nhật, ngày 2/8/2026, Hà Nội còn chưa thức hẳn, nữ giảng viên Bùi Kiều Loan lái chiếc ô tô riêng từ Hà Đông về Chương Mỹ đón tôi. Đi thêm khoảng 7 cây số, hơn 6 giờ, chúng tôi vào thôn Công An, xã Trần Phú đón phóng viên Hoàng Anh Tuấn, rồi ngược lên Xuân Mai đón Nguyễn Sơn.
Nguyễn Sơn là thành viên đoàn thiện nguyện của Kiều Loan, được cả đoàn vui vẻ giao cho chức danh “Bí thư đường lối”, chịu trách nhiệm dẫn đường trong suốt hành trình. Sau bữa sáng khẩn trương tại Xuân Mai, bốn người lên đường, theo đường Hồ Chí Minh hướng về miền núi phía Tây Thanh Hóa.
Chiếc xe lăn bánh giữa những dải núi xanh, qua những vùng đất gợi lại trong tôi bao kỷ niệm. Từ tháng 12/1979 đến tháng 6/1983, tôi từng có thời gian đóng quân tại xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc trước đây, nay là xã Minh Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đơn vị của tôi khi ấy ở thôn Minh Lai, phía bên kia đường Hồ Chí Minh. Đối diện là thôn Minh Thọ – quê của liệt sĩ Lê Đình Tế, cũng là nơi người vợ của ông đã mòn mỏi sống trong thương nhớ suốt gần sáu thập kỷ qua.


Tấm hình cuối cùng của Liệt sĩ Lê Đình Tế - Chồng bà Lê Thị Nha được bà và con gái cất giữ mấy chục năm qua

Hơn bốn mươi năm trở lại, đường sá đã rộng hơn, bản làng cũng đổi thay nhiều. Nhưng càng gần Minh Sơn, trong tôi càng hiện rõ những con đường đất đỏ năm xưa, thấp thoáng những mái nhà sàn, E25 Công binh khoét núi, ngủ hầm và những cuộc giao lưu thắm tình Quân Dân ngày ấy… Tôi không ngờ rằng, sau ngần ấy năm, cuộc trở về này lại đưa mình đến trước một câu chuyện quá đỗi đau thương mà lặng lẽ; một câu chuyện được đo không chỉ bằng thời gian, mà bằng cả tuổi xuân và cuộc đời của một người phụ nữ.
Khoảng hơn 10 giờ, đoàn đến nhà bà Lê Thị Nha. Đón chúng tôi có con cháu trong gia đình bà, cùng ông Bùi Công Luật – Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn, ông Lê Minh Thự – an ninh viên, đồng thời là người cháu trong dòng họ của liệt sĩ Lê Đình Tế.


Bà Lê Thị Nha và người con gái (bìa trái) tìm lại Bằng Tổ quốc ghi công của LS.Lê Đình Tế

Góc thờ nhỏ và tấm bằng đã rách
Ngôi nhà của bà Nha hiện ra với vẻ tuềnh toàng, chật chội. Trong nhà, bà sống cùng người con gái đầu Lê Thị Vực, vợ chồng người cháu gái – con của bà Vực – và các chắt.
Điều khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng là gia đình chưa có một nơi thờ tự riêng dành cho liệt sĩ Lê Đình Tế. Ban thờ được đặt nép trên một góc cao sát vì kèo. Tấm Bằng “Tổ quốc ghi công” cũng không còn chỗ trang trọng để treo. Trải qua thời gian quá dài, tấm bằng đã rách tươm, may mà vẫn còn nguyên tên liệt sĩ cùng con dấu và chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Chúng tôi kính cẩn đặt lễ, thắp nén hương tưởng niệm người liệt sĩ đã nằm lại chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Khói hương mỏng manh bay lên dưới mái nhà cũ. Trước góc thờ đơn sơ ấy, mọi lời nói dường như đều trở nên thừa. Bởi có những mất mát không ồn ào, nhưng sức nặng của nó kéo dài qua năm tháng, lặng lẽ đè lên cả một đời người.
Bà Nha ngồi lặng một chỗ. Ở tuổi 92, bà không còn tự đứng lên hay đi lại được; mỗi lần cần di chuyển đều phải nhờ con cháu bế hoặc xốc hai bên nách. Bà không mắc bệnh hiểm nghèo, vẫn ăn uống được, nhưng mỗi bữa chẳng còn bao nhiêu. Chân tay ngày một khô gầy, sức lực cứ lặng lẽ vơi dần khỏi cơ thể.
Bà Lê Thị Vực kể, thời trẻ, mẹ mình là một cô gái Mường nhanh nhẹn, tháo vát và chịu thương chịu khó. Vậy mà giờ đây, bà chỉ có thể ngồi đâu yên đó. Lời nói đã không còn lưu loát; nghe và hiểu được câu nào, bà khẽ “ừ”, “à” câu ấy.
Tôi ngồi xuống bên bà, hỏi:
– Bà ơi, ngày ông lên đường, ông có dặn bà điều gì không?
Bà nhìn chúng tôi rồi chậm rãi lắc đầu, đôi mắt hướng về một khoảng xa xăm.
– Trong những năm tháng qua, bà nhớ điều gì nhất về ông?
Bà lại lắc đầu.
Không rõ bà không còn nhớ, hay không thể nói thành lời; cũng có thể ký ức quá xa xôi đã chìm sâu sau gần sáu mươi năm dằng dặc. Nhưng sự im lặng ấy khiến căn nhà càng lặng hơn. Đôi khi, nỗi nhớ đi qua quá nhiều năm tháng không còn biểu hiện bằng nước mắt hay lời kể. Nó hóa thành một khoảng trống nằm sâu trong đời người – âm thầm, dai dẳng và không gì khỏa lấp nổi.
Người lính ra đi từ mùa đông năm 1965
Bà Lê Thị Nha sinh năm 1935, cùng quê thôn Minh Nguyên với ông Lê Đình Tế, sinh năm 1937. Hai người nên duyên vợ chồng vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Cuộc sống còn nghèo, nhưng mái nhà nhỏ lần lượt đón hai cô con gái: Lê Thị Vực, sinh năm 1964 và Lê Thị Hòa, sinh năm 1966.
Tháng 12/1965, ông Tế nhập ngũ. Người chồng, người cha trẻ khoác ba lô lên đường, để lại cho bà Nha trách nhiệm chăm sóc bố mẹ chồng và nuôi hai con thơ giữa vùng núi Ngọc Lặc còn muôn vàn thiếu thốn.
Những năm ấy, cái đói luôn rình rập trong từng căn bếp. Củ mài, củ sắn, rau rừng, măng rừng… có khi trở thành thức ăn thay cơm. Một mình bà Nha vừa làm dâu, chăm sóc cha mẹ chồng, vừa làm mẹ, bồng bế hai con nhỏ. Vất vả đến mấy, bà vẫn chờ tin chồng, vẫn tin rồi sẽ có ngày ông hoàn thành nhiệm vụ và trở về.
Vào quân đội, ông Lê Đình Tế được biên chế về Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Ông giữ chức Tiểu đội trưởng trong bộ khung huấn luyện. Kỷ vật quý giá nhất còn lại của ông là một tấm ảnh chân dung. Trong ảnh, ông đội mũ cối, đeo quân hàm Trung sĩ, gương mặt sáng, cương nghị và đầy sức trẻ.
Đó là hình ảnh bà Nha và các con đã gìn giữ qua bao năm tháng. Người trong ảnh vẫn trẻ như ngày ra trận, trong khi người vợ ở quê nhà đi qua tuổi xuân, tuổi già và gần trọn một đời thương nhớ.
Lời kể của người đồng đội
Những năm tháng cuối đời, câu chuyện về liệt sĩ Lê Đình Tế được nối lại bằng ký ức của ông Đỗ Văn Thuận, sinh năm 1948 – người đồng đội từng ăn cùng mâm, đi cùng đoàn quân vào chiến trường và có mặt trong đội hình hành quân vào thời điểm xảy ra trận phục kích đau thương tại khu vực Ấp 7, xã An Linh. Ông Thuận hiện cư trú tại nhà số 12, ngõ 25, đường Nguyễn Tất Thành, phường Thanh Miếu, Việt Trì, Phú Thọ (điện thoại: 0913.503.400).
Theo ký ức và bản xác nhận của ông Thuận, tối 20/4/1968, một đoàn quân bổ sung khoảng 30 cán bộ, chiến sĩ đang hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Khi đến khu vực Ấp 7, xã An Linh, huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương tốp đi đầu bất ngờ lọt vào ổ phục kích của một trung đội lính Mỹ. Mười cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 141 đã hy sinh, trong đó có ông Lê Đình Tế. Ông Thuận khi ấy mang súng trung liên, đi phía sau cùng một số đồng đội nên không lọt vào trận địa phục kích của địch.
Sau khi gây tội ác, quân địch còn có những hành động man rợ đối với thi thể các chiến sĩ. Ba ngày sau, khi tổ trinh sát quay lại làm công tác tử thi, thân thể các đồng đội đã bắt đầu phân hủy. Đau đớn nhất, theo lời ông Thuận, là các chiến sĩ hy sinh đều bị lột hết quần áo; riêng ông Tế còn bị chúng mổ bụng hết sức dã man. Ký ức ấy đã theo ông Thuận cùng những người sống sót suốt nhiều thập kỷ, trở thành một vết thương chiến tranh không dễ gì nói lại thành lời.
Ông Thuận khẳng định mình biết rõ nơi các đồng đội được an táng, thuộc khu vườn của một gia đình tại địa phương. Chính ông đã từng trở lại nơi ấy; năm 2011 và năm 2020, ông còn trực tiếp dẫn người thân của ba liệt sĩ trong số những người cùng hy sinh về đúng địa điểm. Bởi vậy, điều còn lại không phải là một cuộc kiếm tìm vô định, mà là nghĩa tình đồng đội, trách nhiệm của các cơ quan liên quan và niềm mong mỏi chính đáng của những gia đình đã chờ đợi quá lâu.
Giấy báo tử và lời xác nhận của người đồng đội còn có điểm chưa trùng khớp về thời điểm hy sinh. Tuy nhiên, trước một cuộc đời đã hiến dâng cho Tổ quốc và một gia đình mang thương nhớ gần sáu mươi năm, điều đọng lại sâu sắc hơn cả vẫn là sự hy sinh của người lính, đức thủy chung của người vợ và ký ức không phai mờ của những người đồng đội còn sống.


CCB Đỗ Hữu Thuận chia sẻ tấm hình ông chụp lại tấm bia ghi danh 10 liệt sĩ của E141 - F7 - QĐ4 do chính ông
chôn cất năm 1968 tại Ấp 7 xã An Linh, huyện Bửu Phước, tỉnh Bình Dương, trong đó có liệt sĩ Lê Đình Tế.

Một đời người gánh trọn hai vai
Ông Tế đi B chưa bao lâu thì hy sinh. Bà Nha từ người vợ trẻ trở thành góa phụ khi mới ngoài ba mươi tuổi; hai cô con gái còn quá nhỏ để hiểu rằng cha mình sẽ không bao giờ có thể trở về nữa.
Từ đó, bà thay chồng phụng dưỡng cha mẹ và nuôi dạy các con. Trong cảnh nghèo khó của miền núi những năm chiến tranh và hậu chiến, người phụ nữ ấy đã gánh trọn cả hai vai: vừa làm mẹ, vừa làm cha; vừa giữ nếp nhà, vừa giữ trọn nghĩa tình với người đã khuất.
Sự hy sinh oanh liệt của người lính có một thời khắc được Tổ quốc ghi nhận. Nhưng sự hy sinh của người vợ liệt sĩ thường kéo dài trong lặng lẽ. Đó là những mùa vụ một mình trên nương; những bữa đói nhường phần ăn cho con; những khi cha mẹ chồng đau yếu mà không có chồng bên cạnh; những đêm con sốt, những khi giông bão làm bung mái nhà, một mình bà thức trắng; và cả những năm tháng thanh xuân lặng lẽ đi qua trong khắc khoải đợi chờ.
Gần sáu mươi năm, bà Nha ở lại nuôi con, giữ mái nhà và giữ hình bóng người chồng đã hy sinh. Không tấm huy chương nào có thể đo đếm hết những tháng năm ấy. Không một lời ngợi ca nào có thể kể trọn sức chịu đựng của một người phụ nữ miền núi đã âm thầm lấy cả cuộc đời mình nối dài tình nghĩa với người lính Cụ Hồ.
Nhìn bà ngồi lặng, bàn tay nhăn nheo chạm vào mép rách của tấm Bằng “Tổ quốc ghi công” giữa căn nhà đơn sơ, chúng tôi càng thấm thía: phía sau mỗi tấm bằng là một gia đình mang thương nhớ suốt đời, gánh chịu nỗi quặn đau suốt đời. Phía sau tên tuổi một liệt sĩ là người mẹ mòn mắt đợi con, người vợ bạc đầu chờ chồng, là những đứa trẻ lớn lên chỉ biết khuôn mặt cha qua một tấm hình.


Nhà báo Trần Miêu và giảng viên Bùi Kiều Loan(bìa phải) thăm và tặng quà bà Lê Thị Nha - vợ liệt sĩ Lê Đình Tế, cùng gia đình

Mong ước cuối đời của người vợ liệt sĩ
Khi được hỏi về nguyện vọng lớn nhất của bà và gia đình, câu trả lời không phải là một sự hỗ trợ vật chất hay điều gì cao xa. Bà và các con chỉ mong, khi các điều kiện cần thiết được giải quyết, liệt sĩ Lê Đình Tế có thể trở về yên nghỉ trong lòng quê hương. Mong ước ấy tuy chỉ gói trong một câu, nhưng phía sau là gần sáu mươi năm đằng đẵng của một người vợ và hai người con.
Thay mặt đoàn, chị Bùi Kiều Loan trao phần quà thiện nguyện, ân cần thăm hỏi và chúc bà Nha mạnh khỏe. Chị chia sẻ rằng những thông tin cùng nguyện vọng của gia đình sẽ được chuyển tới Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 141, Sư đoàn 7 và các cơ quan chức năng, để nghĩa tình đối với người đã hy sinh và người đang sống tiếp tục được nối dài bằng những việc làm thiết thực.
Bà Nha nghe con cháu nói lại, khẽ gật đầu. Không biết bà còn có thể hình dung đầy đủ những câu chuyện đang được nhắc đến quanh mình hay không. Chỉ biết rằng ở tuổi 92, thời gian dành cho bà không còn nhiều nữa. Cái gật đầu rất khẽ ấy khiến những người có mặt càng thấy lòng mình nặng lại.


Đoàn thiện nguyện thăm và tặng quà, khai thác tư liệu quý, chụp ảnh cùng CCB Đỗ Hữu Thuận - nguyên chiến sĩ E 141, F7, QĐ 4 - người đã và đang giúp các thân nhân của 10 liệt sĩ do chính tay ông chôn cất năm 1968 được trở về quê hương

Trưa muộn, chúng tôi rời Minh Thọ, quay ngược đường Hồ Chí Minh, tiếp tục hành trình lên Việt Trì, Phú Thọ gặp cựu chiến binh Đỗ Văn Thuận – người đồng đội đang lưu giữ ký ức trực tiếp về trận phục kích năm xưa và biết rõ nơi những người đồng đội của mình đã nằm lại.
Qua cửa kính xe, căn nhà nhỏ của bà Nha lùi dần phía sau. Con đường Hồ Chí Minh hôm nay rộng dài, nối liền những miền đất từng bị chiến tranh chia cắt. Núi rừng vẫn xanh, bản làng đang từng ngày đổi mới; chỉ có những vết thương trong lòng người dường như không bao giờ thật sự khép lại.
Chúng tôi ra về, mang theo hình ảnh góc thờ nhỏ dưới vì kèo, tấm Bằng “Tổ quốc ghi công” đã rách và người vợ liệt sĩ nhỏ thó, yếu ớt ngồi lặng giữa con cháu. Những hình ảnh ấy tuy bình dị nhưng chứa đựng cả một phần lịch sử: lịch sử được viết bằng máu của người ra trận và bằng nước mắt, lòng thủy chung, đức hy sinh của người ở lại.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Người lính trong tấm ảnh vẫn mãi ở tuổi thanh xuân, còn người vợ năm xưa nay đã 92 tuổi, mái tóc bạc trắng, lời nói chỉ còn những tiếng “ừ”, “à” đứt quãng. Nhưng giữa hai bờ thời gian ấy vẫn có một sợi dây không gì cắt đứt được: nghĩa vợ chồng, tình đồng đội và lòng biết ơn của những người đang sống.


Quang cảnh xã MInh Sơn, Thanh Hóa nơi bà vợ Liệt sĩ Lê Đình Tế mỏi mong chồng về đã gần mấy chục năm qua.

Mong rằng, từ lời xác nhận của cựu chiến binh Đỗ Văn Thuận, từ hồ sơ của đơn vị và sự phối hợp đầy trách nhiệm của các cơ quan chức năng, tâm nguyện chính đáng của gia đình sẽ được quan tâm, giải quyết chu đáo. Không chỉ để người đã hy sinh được đón nhận bằng trọn vẹn nghĩa tình, mà còn để người vợ già có thêm một niềm an ủi trong những ngày cuối đời.
Gần sáu mươi năm, bà Lê Thị Nha vẫn đợi ông về. Cuộc đợi chờ ấy có thể không còn được nói thành lời, nhưng vẫn hiện hữu trong góc thờ nhỏ, trong tấm bằng đã rách, trong tấm ảnh người lính trẻ và trong đôi mắt già nua nhìn mãi về một miền xa thẳm.
Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi chúng ta: phía sau độc lập, hòa bình hôm nay không chỉ có sự hy sinh của những người đã ngã xuống, mà còn có cả cuộc đời thầm lặng, thủy chung và nhẫn nại của những người ở lại.

Ngày 02/8/2026
TRẦN MIÊU
Bình luận

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Phường Việt Hưng sau một năm vận hành chính quyền hai cấp: Vận hành thông suốt, phục vụ người dân hiệu quả

    Mỗi sự chuyển đổi trong tổ chức bộ máy hành chính đều hướng tới một mục đích duy nhất: sự hài lòng của người dân và sự...

CUỘC ĐIỆN THOẠI “OANG OANG” SAU CA CAN THIỆP ĐẶC BIỆT

Sau nhiều ngày bặt tin, sáng 5/8, tôi bất ngờ nhận được cuộc gọi của Đại tá, bác sĩ, cựu chiến binh Kiều Giáp Thành – người bạn lính...

GIỮ GÌN GIÁ TRỊ THẬT CỦA CÀ PHÊ VIỆT: TỪ HẠT CÀ PHÊ ĐẾN TRÁCH NHIỆM VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Việt Nam nhiều năm qua luôn nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới. Thế nhưng, một nghịch lý vẫn tồn tại ngay trên thị trường...

Ấm áp “Bữa cơm Công đoàn” nhân dịp kỷ niệm 97 năm thành lập Công đoàn Việt Nam

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) và 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2026), Công đoàn...

PHẠM ĐỨC NAM – MỘT ĐỜI THEO NHỮNG ĐƯỜNG BAY

    Có những người rời buồng lái nhưng dường như chưa bao giờ ngừng bay. Sau một đời đi qua chiến tranh, những năm tháng khổ luyện trên đất nước Liên...