Văn hoá phát triển
HỌ ĐỖ (ĐẬU) VIỆT NAM TRONG DÒNG CHẢY DÂN TỘC
Thứ năm ,
12/02/2026 |
10:33 GMT+7
1. Mạch nguồn họ tộc
Trong dòng chảy bất tận của lịch sử Việt Nam, mỗi dòng họ là một mạch ngầm bền bỉ góp phần nuôi dưỡng bản sắc dân tộc. Từ những hạt phù sa lặng lẽ ấy, sức mạnh cộng đồng được kết tinh, khí phách quốc gia được hun đúc qua muôn đời. Họ Đỗ (Đậu) – một trong những dòng họ lớn của đất Việt – đã hiện diện và đồng hành cùng dân tộc từ buổi bình minh dựng nước, để lại dấu ấn vừa linh thiêng, vừa hào hùng.
Những trang “Cổ lỗi ngọc phả truyền thư”, “Bách Việt tộc phả” không chỉ ghi chép lịch sử, mà còn như tiếng vọng của con Rồng cháu Tiên từ thuở hồng hoang.Truyền tích về cụ Đỗ Thương, Công chúa Đoan Trang – Hương Vân Cái Bồ Tát, về Kinh Dương Vương và Bát bộ Kim Cương... đã tạo nên một nền tảng tinh thần sâu bền: khẳng định họ Đỗ gắn bó mật thiết với khởi nguyên quốc thống. Ở đây, lịch sử và huyền sử không đối lập, mà hòa quyện để tạo nên niềm tin văn hóa – thứ “sức mạnh mềm” giúp dòng họ đứng vững suốt chiều dài đã mấy nghìn năm.
Trong dòng chảy bất tận của lịch sử Việt Nam, mỗi dòng họ là một mạch ngầm bền bỉ góp phần nuôi dưỡng bản sắc dân tộc. Từ những hạt phù sa lặng lẽ ấy, sức mạnh cộng đồng được kết tinh, khí phách quốc gia được hun đúc qua muôn đời. Họ Đỗ (Đậu) – một trong những dòng họ lớn của đất Việt – đã hiện diện và đồng hành cùng dân tộc từ buổi bình minh dựng nước, để lại dấu ấn vừa linh thiêng, vừa hào hùng.
Những trang “Cổ lỗi ngọc phả truyền thư”, “Bách Việt tộc phả” không chỉ ghi chép lịch sử, mà còn như tiếng vọng của con Rồng cháu Tiên từ thuở hồng hoang.Truyền tích về cụ Đỗ Thương, Công chúa Đoan Trang – Hương Vân Cái Bồ Tát, về Kinh Dương Vương và Bát bộ Kim Cương... đã tạo nên một nền tảng tinh thần sâu bền: khẳng định họ Đỗ gắn bó mật thiết với khởi nguyên quốc thống. Ở đây, lịch sử và huyền sử không đối lập, mà hòa quyện để tạo nên niềm tin văn hóa – thứ “sức mạnh mềm” giúp dòng họ đứng vững suốt chiều dài đã mấy nghìn năm.

Mộ tổ họ Đỗ Việt Nam - Khu di tích đã được xếp hạng, nằm tại Phú La, Hà Đông, Hà Nội.
2. Khởi nguyên từ huyền sử dựng nước
Theo truyền thuyết dân gian và ngọc phả truyền lưu, trong mạch kể về buổi đầu thời đại Hồng Bàng có nhắc đến cụ Đỗ Thương, được xem là bậc trông coi vùng Xích Quỷ, cùng phu nhân Vụ Tiên sinh hạ chín người con. Người con gái mang tên Đỗ Thị Ngoan, được nhân dân tôn xưng là Công chúa Đoan Trang, gắn với nhiều lớp tích cổ về đức hạnh, căn duyên và vai trò tinh thần trong lịch sử khởi nguyên.
Cũng theo truyền thuyết, từ việc kết duyên giữa Công chúa Đoan Trang với Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) rồi khởi sinh Lộc Tục – Kinh Dương Vương, nhân vật trung tâm trong huyền sử dựng nước, gắn với việc hình thành quốc thống Văn Lang – Xích Quỷ. Những cách diễn giải này phản ánh nỗ lực của cộng đồng người Việt xưa trong việc lý giải nguồn gốc dân tộc thông qua huyền thoại và biểu tượng gia tộc.
Theo chính sử, đặc biệt là Đại Việt sử ký toàn thư, chỉ ghi nhận mạch huyền sử Hồng Bàng với các nhân vật như Đế Minh – Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, song không định danh cụ thể các mối quan hệ gia tộc theo cách chi tiết như trong truyền thuyết hay ngọc phả dòng họ. Do đó, các tên gọi và mối liên hệ nói trên cần được hiểu như những lớp diễn giải văn hóa – tín ngưỡng, bổ trợ cho chính sử, chứ không đồng nhất với tư liệu lịch sử đã được kiểm chứng.
Một số tích cổ và ngọc phả còn kể rằng, sau những biến cố nơi cung đình, Công chúa Đoan Trang rời bỏ chốn quyền quý, mang theo con vào núi tu hành tại động Tiên Phi. Hình tượng này thường được gắn với việc hình thành một lối tu dưỡng đề cao tu thân – tích đức – tri ân tổ tiên, phản ánh sớm triết lý sống coi trọng đạo hiếu, nhân nghĩa và sự hài hòa giữa con người với trời đất trong văn hóa Việt.
Cũng trong truyền thuyết dân gian, tám người em trai của bà được tôn xưng là Bát bộ Kim Cương, những nhân vật mang tính biểu trưng cho sức mạnh hộ quốc, phò trợ Kinh Dương Vương trong công cuộc giữ yên bờ cõi. Hình tượng Bát bộ Kim Cương hiện diện trong không gian Phật giáo tại một số chùa cổ, được xem như dấu ấn của sự giao thoa giữa huyền sử dựng nước và tín ngưỡng dân gian – Phật giáo trong tiến trình lịch sử.
Từ cách tiếp cận phân tầng tư liệu như vậy, có thể nhận thấy rằng, trong các lớp huyền tích về khởi nguyên dân tộc, dòng họ Đỗ thường được đặt vào mạch tự sự gắn bó với việc phụng sự cộng đồng, kết hợp giữa đạo và đời. Tất nhiên cần tiếp tục khảo cứu, đối chiếu và thẩm định, nhưng những truyền thuyết này vẫn giữ giá trị quan trọng trong việc bồi đắp bản sắc văn hóa, ý thức tri ân cội nguồn và tinh thần hướng về tổ tiên của các đời hậu duệ.
Theo truyền thuyết dân gian và ngọc phả truyền lưu, trong mạch kể về buổi đầu thời đại Hồng Bàng có nhắc đến cụ Đỗ Thương, được xem là bậc trông coi vùng Xích Quỷ, cùng phu nhân Vụ Tiên sinh hạ chín người con. Người con gái mang tên Đỗ Thị Ngoan, được nhân dân tôn xưng là Công chúa Đoan Trang, gắn với nhiều lớp tích cổ về đức hạnh, căn duyên và vai trò tinh thần trong lịch sử khởi nguyên.
Cũng theo truyền thuyết, từ việc kết duyên giữa Công chúa Đoan Trang với Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) rồi khởi sinh Lộc Tục – Kinh Dương Vương, nhân vật trung tâm trong huyền sử dựng nước, gắn với việc hình thành quốc thống Văn Lang – Xích Quỷ. Những cách diễn giải này phản ánh nỗ lực của cộng đồng người Việt xưa trong việc lý giải nguồn gốc dân tộc thông qua huyền thoại và biểu tượng gia tộc.
Theo chính sử, đặc biệt là Đại Việt sử ký toàn thư, chỉ ghi nhận mạch huyền sử Hồng Bàng với các nhân vật như Đế Minh – Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, song không định danh cụ thể các mối quan hệ gia tộc theo cách chi tiết như trong truyền thuyết hay ngọc phả dòng họ. Do đó, các tên gọi và mối liên hệ nói trên cần được hiểu như những lớp diễn giải văn hóa – tín ngưỡng, bổ trợ cho chính sử, chứ không đồng nhất với tư liệu lịch sử đã được kiểm chứng.
Một số tích cổ và ngọc phả còn kể rằng, sau những biến cố nơi cung đình, Công chúa Đoan Trang rời bỏ chốn quyền quý, mang theo con vào núi tu hành tại động Tiên Phi. Hình tượng này thường được gắn với việc hình thành một lối tu dưỡng đề cao tu thân – tích đức – tri ân tổ tiên, phản ánh sớm triết lý sống coi trọng đạo hiếu, nhân nghĩa và sự hài hòa giữa con người với trời đất trong văn hóa Việt.
Cũng trong truyền thuyết dân gian, tám người em trai của bà được tôn xưng là Bát bộ Kim Cương, những nhân vật mang tính biểu trưng cho sức mạnh hộ quốc, phò trợ Kinh Dương Vương trong công cuộc giữ yên bờ cõi. Hình tượng Bát bộ Kim Cương hiện diện trong không gian Phật giáo tại một số chùa cổ, được xem như dấu ấn của sự giao thoa giữa huyền sử dựng nước và tín ngưỡng dân gian – Phật giáo trong tiến trình lịch sử.
Từ cách tiếp cận phân tầng tư liệu như vậy, có thể nhận thấy rằng, trong các lớp huyền tích về khởi nguyên dân tộc, dòng họ Đỗ thường được đặt vào mạch tự sự gắn bó với việc phụng sự cộng đồng, kết hợp giữa đạo và đời. Tất nhiên cần tiếp tục khảo cứu, đối chiếu và thẩm định, nhưng những truyền thuyết này vẫn giữ giá trị quan trọng trong việc bồi đắp bản sắc văn hóa, ý thức tri ân cội nguồn và tinh thần hướng về tổ tiên của các đời hậu duệ.

Công trình Nhà tờ tổ họ ĐỖ Việt Nam đang được thi công xây dựng tại Phú La - Hà Đông, Hà Nội. Công trình đang rất cần sự chung tay góp sức của con em trong dòng tộc họ ĐỖ và các nhà hảo tâm trên toàn quốc, để công trình sớm được hoàn thiện như mong muốn.
3. Di tích – nơi ký thác hồn cốt tổ tiên
Công chúa Đoan Trang sinh ngày 8/4 âm lịch, hóa ngày 15/7 âm lịch – hai mốc thời gian thiêng liêng của Phật đạo và đạo hiếu. Sự trùng hợp ấy được hậu thế coi như một biểu tượng linh ứng, gắn kết tín ngưỡng dân gian với đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Khu mộ Tổ họ Đỗ tại gò Thiềm Thừ (Ba La, Hà Đông) tuy khiêm nhường nhưng linh thiêng. Năm 2016, khu mộ được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố – sự ghi nhận chính thức của Nhà nước đối với công lao tiên tổ. Hai tấm bia hình con cóc từng hiện diện trên gò xưa, với bài thơ chữ Hán được La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp dịch:
Công chúa Đoan Trang sinh ngày 8/4 âm lịch, hóa ngày 15/7 âm lịch – hai mốc thời gian thiêng liêng của Phật đạo và đạo hiếu. Sự trùng hợp ấy được hậu thế coi như một biểu tượng linh ứng, gắn kết tín ngưỡng dân gian với đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Khu mộ Tổ họ Đỗ tại gò Thiềm Thừ (Ba La, Hà Đông) tuy khiêm nhường nhưng linh thiêng. Năm 2016, khu mộ được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố – sự ghi nhận chính thức của Nhà nước đối với công lao tiên tổ. Hai tấm bia hình con cóc từng hiện diện trên gò xưa, với bài thơ chữ Hán được La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp dịch:
“Lối cũ dấu thơm,
Nghìn xưa vẫn đó;
Cây to báu vật,
Muôn thuở còn đây.”
Nghìn xưa vẫn đó;
Cây to báu vật,
Muôn thuở còn đây.”
Di tích không chỉ là nơi thờ tự, mà là cột mốc ký ức, nhắc nhở con cháu về trách nhiệm giữ gìn gốc rễ.

Nhà thờ họ Đỗ khu vực miền Nam
4. Họ Đỗ trong lịch sử dựng nước – giữ nước
Từ thời Hùng Vương đến các triều đại phong kiến, họ Đỗ luôn hiện diện trong những thời khắc trọng đại. Đỗ Phụng Chân, Đỗ Quang, Đỗ Công Điền và Liên Nương… được nhân dân tôn làm Thành hoàng vì công lao bảo vệ dân làng. Buổi đầu Công nguyên, Đỗ Năng Tế là thầy và tướng của Hai Bà Trưng; Tiếp đến là những thế kỷ tiếp sau có rất nhiều danh nhân họ Đỗ nổi tiếng với việc giữ yên ổn, dẹp loạn nội bộ và đẩy lùi quân xâm lược. Hiện ở khắp miền trên cả nước, đặc biệt là ở miền Bắc, có rất nhiều danh nhân, tướng lĩnh họ Đỗ đã được nhân dân các vùng dựng đền miếu tôn thờ về thân thế sự nghiệp của các ông.
Các triều Lý – Trần – Lê – Mạc tiếp nối truyền thống ấy bằng những tên tuổi lẫy lừng: Thiền sư Đỗ Pháp Thuận với bài thơ “Quốc tộ” đã sớm khẳng định tư tưởng lấy dân làm gốc; rồi Đỗ Thế Diên, Đỗ Hành, Đỗ Khắc Chung, Đỗ Bí, Đỗ Nhuận, Đỗ Lý Khiêm…Từ võ công hiển hách đến văn trị sâu xa, họ Đỗ góp phần làm nên diện mạo quốc gia. Đặc biệt, Đỗ Bá Công Đạo (Phả họ Đậu Cẩm Nang còn gọi là Đỗ Bá Luận) là người vẽ bản đồ Hoàng Sa – Trường Sa từ thế kỷ XVII; Bạch Thái Bưởi (Đỗ Thái Bửu) gây dựng thương hiệu doanh nhân Việt đầu thế kỷ XX. Lịch sử họ Đỗ là minh chứng cho sự hòa quyện giữa trí tuệ, lòng yêu nước và ý thức chủ quyền.
Từ thời Hùng Vương đến các triều đại phong kiến, họ Đỗ luôn hiện diện trong những thời khắc trọng đại. Đỗ Phụng Chân, Đỗ Quang, Đỗ Công Điền và Liên Nương… được nhân dân tôn làm Thành hoàng vì công lao bảo vệ dân làng. Buổi đầu Công nguyên, Đỗ Năng Tế là thầy và tướng của Hai Bà Trưng; Tiếp đến là những thế kỷ tiếp sau có rất nhiều danh nhân họ Đỗ nổi tiếng với việc giữ yên ổn, dẹp loạn nội bộ và đẩy lùi quân xâm lược. Hiện ở khắp miền trên cả nước, đặc biệt là ở miền Bắc, có rất nhiều danh nhân, tướng lĩnh họ Đỗ đã được nhân dân các vùng dựng đền miếu tôn thờ về thân thế sự nghiệp của các ông.
Các triều Lý – Trần – Lê – Mạc tiếp nối truyền thống ấy bằng những tên tuổi lẫy lừng: Thiền sư Đỗ Pháp Thuận với bài thơ “Quốc tộ” đã sớm khẳng định tư tưởng lấy dân làm gốc; rồi Đỗ Thế Diên, Đỗ Hành, Đỗ Khắc Chung, Đỗ Bí, Đỗ Nhuận, Đỗ Lý Khiêm…Từ võ công hiển hách đến văn trị sâu xa, họ Đỗ góp phần làm nên diện mạo quốc gia. Đặc biệt, Đỗ Bá Công Đạo (Phả họ Đậu Cẩm Nang còn gọi là Đỗ Bá Luận) là người vẽ bản đồ Hoàng Sa – Trường Sa từ thế kỷ XVII; Bạch Thái Bưởi (Đỗ Thái Bửu) gây dựng thương hiệu doanh nhân Việt đầu thế kỷ XX. Lịch sử họ Đỗ là minh chứng cho sự hòa quyện giữa trí tuệ, lòng yêu nước và ý thức chủ quyền.
Hai vợ chồng doanh nhân Đỗ Văn Tân thành tâm viếng mộ tổ
5. Tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh
Vào thế kỷ XX – XXI, họ Đỗ tiếp tục khẳng định vị thế trong mọi lĩnh vực: Nhạc sĩ Đỗ Nhuận với các tác phẩm, như: Du kích sông Thao; Giải phóng Điện Biên... như nói lên tiếng lòng của non song, đưa ông đến với Giải thưởng Hồ Chí Minh (Giải Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật); GS Đỗ Tất Lợi – tượng đài khoa học y dược; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Thượng tướng Hoàng Cầm (tên khai sinh là Đỗ Văn Cầm sinh năm 1920 ở Ứng Hòa – Hà Tây cũ), Thượng tướng Đỗ Căn; mới đây là Thượng tướng Đỗ Xuân Tụng – Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị; và Đỗ Văn Bảnh – Chính ủy Học viện Quốc phòng – biểu tượng bản lĩnh quân đội; cùng nhiều trí thức, lãnh đạo, doanh nhân, nghệ sĩ tiêu biểu Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyến giải mã chữ Việt cổ, góp phần soi sáng văn minh Văn Lang. Từ trong nước đến hải ngoại, con cháu họ Đỗ đang tiếp tục hội nhập, mang trí tuệ Việt ra thế giới. Sự kế tục liền mạch từ cổ đại đến hiện đại chính là sức mạnh bền vững của dòng họ.
Vào thế kỷ XX – XXI, họ Đỗ tiếp tục khẳng định vị thế trong mọi lĩnh vực: Nhạc sĩ Đỗ Nhuận với các tác phẩm, như: Du kích sông Thao; Giải phóng Điện Biên... như nói lên tiếng lòng của non song, đưa ông đến với Giải thưởng Hồ Chí Minh (Giải Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật); GS Đỗ Tất Lợi – tượng đài khoa học y dược; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Thượng tướng Hoàng Cầm (tên khai sinh là Đỗ Văn Cầm sinh năm 1920 ở Ứng Hòa – Hà Tây cũ), Thượng tướng Đỗ Căn; mới đây là Thượng tướng Đỗ Xuân Tụng – Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị; và Đỗ Văn Bảnh – Chính ủy Học viện Quốc phòng – biểu tượng bản lĩnh quân đội; cùng nhiều trí thức, lãnh đạo, doanh nhân, nghệ sĩ tiêu biểu Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyến giải mã chữ Việt cổ, góp phần soi sáng văn minh Văn Lang. Từ trong nước đến hải ngoại, con cháu họ Đỗ đang tiếp tục hội nhập, mang trí tuệ Việt ra thế giới. Sự kế tục liền mạch từ cổ đại đến hiện đại chính là sức mạnh bền vững của dòng họ.

Giáo sư Sử học Lê Văn Lan cùng vợ chồng doanh nhân Đỗ Văn Tân tìm về nơi ghi danh các danh nhân họ Đỗ được khắc trên bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội.
6. Khúc tráng ca tự hào
Hơn năm nghìn năm, từ động Tiên Phi đến chùa Đại Bi, từ gò Thiềm Thừ đến những con phố mang tên danh nhân họ Đỗ, từ khói hương linh thiêng đến những tiếng ca hào hùng – tất cả hợp thành bản trường ca bất tận của họ Đỗ (Đậu) Việt Nam. Con cháu hôm nay, đứng trước mộ Tổ, đọc những dòng văn bia, hay cất tiếng hát Quốc ca, đều cảm nhận rõ niềm tự hào thiêng liêng: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn. Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.”
Họ Đỗ chính là một trong những cội nguồn ấy – bền bỉ, hiên ngang, thủy chung với dân tộc. Tự hào về một lịch sử rạng rỡ, nhưng họ Đỗ không dừng lại ở hoài niệm. Từ lòng biết ơn sâu sắc đối với tiên tổ và các bậc tiền nhân đã âm thầm cống hiến, con cháu hôm nay hiểu rằng: giữ gìn truyền thống chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tiếp nối bằng hành động cụ thể, bằng sự gắn kết tự nguyện và trách nhiệm chung của cả dòng tộc. Chính từ nhận thức ấy, một hành trình mới đã được khởi xướng...
7. Hành trình kết nối bằng tâm huyết và tự nguyện
Trong sâu thẳm tâm thức mỗi người con họ Đỗ (Đậu), dù ở miền xuôi hay miền ngược, trong nước hay nơi đất khách, luôn ẩn chứa một khát vọng chung: được nhận diện mình trong một dòng chảy lớn, được nương tựa vào một mái nhà tinh thần mang tên dòng tộc. Đó không chỉ là nhu cầu hội tụ, mà còn là tiếng gọi của cội nguồn, của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đã thấm sâu trong huyết mạch bao đời.
Sau hàng nghìn năm hiện diện cùng lịch sử dân tộc, họ Đỗ đã có đủ hào quang của truyền thống. Nhưng để những giá trị ấy không bị phân tán, không rơi vào quên lãng, thì cần có sự kết nối tự nguyện, tự giác, có tổ chức, có trách nhiệm – một sự kết nối không vì danh lợi, mà vì giữ gìn căn cước tinh thần của dòng họ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Khởi đầu của sự gặp gỡ của tâm huyết
Chính từ nhận thức đó, tháng 4 năm 1997, tại ngôi nhà số 111 phố Đặng Tiến Đông (Hà Nội), cuộc họp đầu tiên của đại biểu các chi họ Đỗ trên cả nước đã diễn ra. Cuộc gặp gỡ ấy không phô trương, không ồn ào, nhưng mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt: lần đầu tiên con cháu họ Đỗ (Đậu) từ nhiều vùng miền tự nguyện ngồi lại với nhau, cùng chung một mục tiêu vì dòng tộc. Cuộc họp do Phó Giáo sư Đỗ Tòng (họ Đỗ Kim Quan, Hà Tây) và một số cụ đề xuất khởi xướng, rồi thành lập ra Ban liên lạc họ Đỗ toàn quốc. Đây đều là các bậc trí thức, trưởng lão tiêu biểu cho tinh thần “Vì họ tộc”. Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam được thành lập.
Từ sự đồng thuận cao, Phó Giáo sư Đỗ Tòng được tín nhiệm bầu làm Trưởng ban. Đây không chỉ là sự kiện tổ chức, mà là bước ngoặt về nhận thức: biến truyền thống từ trong sách vở sang hành động cụ thể. Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam ngay từ đầu đã xác định rõ tôn chỉ: hoạt động hoàn toàn tự nguyện, phi lợi nhuận, không ràng buộc hành chính, lấy đạo nghĩa và trách nhiệm làm nền tảng. Chính tinh thần trong sáng ấy đã tạo nên sức lan tỏa bền bỉ.
Mười năm đầu tiên (1997-2007) là giai đoạn đầy thử thách nhưng cũng giàu ý nghĩa nhất. Dưới sự dẫn dắt của Phó Giáo sĐỗ Tòng, Ban Liên lạc đã tập trung vào hai nhiệm vụ cốt lõi: khảo cứu lịch sử dòng họ và xác lập không gian tâm linh chung của họ Đỗ Việt Nam. Điều đó đã thể hiện bằng việc làm cụ thể, như:
- Xuất bản sách “Họ Đỗ Việt Nam” tập I (2001) và tập II (2004) – những công trình có giá trị khoa học và tư liệu, góp phần hệ thống hóa lịch sử họ Đỗ từ huyền sử đến cận đại.
- Ra đời “Thông tin việc họ Đỗ Việt Nam” (số 1 – tháng 1/2002), tạo kênh kết nối thông tin giữa các chi họ.
- Thống nhất lấy ngày 8/4 âm lịch hằng năm là Ngày tưởng niệm Tổ tiên họ Đỗ Việt Nam – một quyết định mang ý nghĩa văn hóa – tâm linh sâu sắc.
- Công bố biểu trưng và con dấu Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam, tạo nhận diện chung cho cộng đồng dòng họ.
- Lập kế hoạch tu sửa miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, xây dựng mộ Bát bộ Kim Cương tại gò Thiềm Thừ (từ năm 2003).
- Xây dựng Website hodovietnam.vn (2006) – bước đi sớm trong việc ứng dụng công nghệ để kết nối dòng họ.
Đây là giai đoạn “lặng lẽ mà sâu lắng”, đặt những viên gạch đầu tiên cho một công trình dài hơi, nơi lịch sử, tâm linh và hiện đại bắt đầu hội tụ.
Những giai đoạn tiếp theo, (2007 – 2016), dưới sự lãnh đạo của Ban liên lạc, Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tổ chức dòng họ từng bước được củng cố, mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng. Những hoạt động tiêu biểu trong giai đoạn này cần kể tới: Tổ chức thi chọn Đỗ ca, Huy hiệu họ Đỗ Việt Nam, Văn tế liệt vị Tổ tiên –góp phần chuẩn hóa nghi lễ và biểu đạt tinh thần dòng họ.
- Thành lập các câu lạc bộ: CLB Tuổi trẻ họ Đỗ (Đậu), CLB Doanh nhân họ Đỗ (Đậu) Việt Nam; CLB Văn hóa – Nghệ thuật họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tạo không gian sinh hoạt đa dạng cho các thế hệ.
- Tiếp nhận bàn giao miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát từ họ Nguyễn Vân (2012) và tiến hành xây dựng, tôn tạo miếu mộ năm 2013. - Lễ bàn giao và cắm mốc giữ nguyên trạng khu mộ Bát bộ Kim Cương (5/2012).
- Lập quy hoạch tổng thể và tôn tạo Khu Mộ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam (2012–2013): tôn cao gò Thiềm Thừ, phục chế bia đá, xây dựng không gian hành lễ trang nghiêm.
- Đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Thành phố cho Khu Mộ Tổ tại phường Phú La, Hà Đông (10/9/2016).
Giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của tổ chức họ Đỗ – từ kết nối tinh thần sang kiến tạo giá trị bền vững cho cộng đồng và xã hội.
Hướng tới tương lai bền vững
Bước vào giai đoạn mới, từ 2016 đến nay dưới sự điều hành của các ông Đỗ Văn Kiện và Đỗ Văn Trắc – Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tầm nhìn của dòng họ được mở rộng theo hướng dài hạn, bền vững và thích ứng với thời đại. Nhiều công việc có ý nghĩa chiến lược đã và đang được triển khai:
- Mua nhà đất làm Nhà thờ Tổ họ Đỗ Việt Nam tại Hà Nội; Mua nhà đất liền kề miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, tạo không gian tâm linh đồng bộ.
- Tôn tạo Khu Mộ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam lần thứ hai, bảo đảm gìn giữ lâu dài; Mua đất, xây dựng Nhà thờ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam phía Nam, đáp ứng nguyện vọng con cháu khu vực Nam Bộ.
- Thành lập CLB Con gái và Con dâu họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, mở rộng tinh thần đoàn kết, bao dung và bình đẳng trong sinh hoạt dòng họ.
Đây là giai đoạn của sự hội tụ trí tuệ và tâm huyết, thể hiện rõ ý chí: gìn giữ truyền thống nhưng không khép kín; tôn vinh dòng họ nhưng luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc. Hành trình hơn hai thập kỷ xây dựng và phát triển tổ chức họ Đỗ (Đậu) Việt Nam là minh chứng sinh động cho sức mạnh của tự nguyện – đoàn kết – trách nhiệm. Đó không phải là hành trình của một vài cá nhân, mà là kết tinh tâm huyết của nhiều thế hệ, tiếp nối mạch nguồn ngàn năm của dòng họ trong dòng chảy chung của đất nước.
Từ quá khứ linh thiêng đến hiện tại năng động, họ Đỗ (Đậu) hôm nay đang từng bước khẳng định một giá trị cốt lõi: tự hào về nguồn cội để sống tốt hơn cho hiện tại, đoàn kết vì dòng họ để phụng sự Tổ quốc!.
.............................
(*) Nước Xích Quỷ - vua Kinh Dương Vương (2879 - 2524) Trước công nguyên.
(**) Lộc Tục sinh ra Sùng Lãm (Lạc Long Quân) lấy Âu Cơ sinh bọc 100 trứng nở ra 100 người con trai, tiếp đến các vua Hùng. (Theo sách họ Đỗ (Đậu) Việt Nam)
Các nội dung trong bài viết này được trình bày trên cơ sở phân biệt giữa chính sử, truyền thuyết dân gian và ngọc phả – gia phả truyền lưu trong cộng đồng dòng họ. Những nhân vật và sự kiện thuộc lớp huyền sử phản ánh nhận thức, niềm tin và ký ức văn hóa của người Việt qua nhiều thế hệ, không đồng nhất với các dữ kiện lịch sử đã được kiểm chứng bằng tư liệu chính thống. Việc ghi chép nhằm bảo tồn giá trị văn hóa – tinh thần và phục vụ nghiên cứu, không mang tính khẳng định lịch sử tuyệt đối.
Hơn năm nghìn năm, từ động Tiên Phi đến chùa Đại Bi, từ gò Thiềm Thừ đến những con phố mang tên danh nhân họ Đỗ, từ khói hương linh thiêng đến những tiếng ca hào hùng – tất cả hợp thành bản trường ca bất tận của họ Đỗ (Đậu) Việt Nam. Con cháu hôm nay, đứng trước mộ Tổ, đọc những dòng văn bia, hay cất tiếng hát Quốc ca, đều cảm nhận rõ niềm tự hào thiêng liêng: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn. Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.”
Họ Đỗ chính là một trong những cội nguồn ấy – bền bỉ, hiên ngang, thủy chung với dân tộc. Tự hào về một lịch sử rạng rỡ, nhưng họ Đỗ không dừng lại ở hoài niệm. Từ lòng biết ơn sâu sắc đối với tiên tổ và các bậc tiền nhân đã âm thầm cống hiến, con cháu hôm nay hiểu rằng: giữ gìn truyền thống chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tiếp nối bằng hành động cụ thể, bằng sự gắn kết tự nguyện và trách nhiệm chung của cả dòng tộc. Chính từ nhận thức ấy, một hành trình mới đã được khởi xướng...
7. Hành trình kết nối bằng tâm huyết và tự nguyện
Trong sâu thẳm tâm thức mỗi người con họ Đỗ (Đậu), dù ở miền xuôi hay miền ngược, trong nước hay nơi đất khách, luôn ẩn chứa một khát vọng chung: được nhận diện mình trong một dòng chảy lớn, được nương tựa vào một mái nhà tinh thần mang tên dòng tộc. Đó không chỉ là nhu cầu hội tụ, mà còn là tiếng gọi của cội nguồn, của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đã thấm sâu trong huyết mạch bao đời.
Sau hàng nghìn năm hiện diện cùng lịch sử dân tộc, họ Đỗ đã có đủ hào quang của truyền thống. Nhưng để những giá trị ấy không bị phân tán, không rơi vào quên lãng, thì cần có sự kết nối tự nguyện, tự giác, có tổ chức, có trách nhiệm – một sự kết nối không vì danh lợi, mà vì giữ gìn căn cước tinh thần của dòng họ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Khởi đầu của sự gặp gỡ của tâm huyết
Chính từ nhận thức đó, tháng 4 năm 1997, tại ngôi nhà số 111 phố Đặng Tiến Đông (Hà Nội), cuộc họp đầu tiên của đại biểu các chi họ Đỗ trên cả nước đã diễn ra. Cuộc gặp gỡ ấy không phô trương, không ồn ào, nhưng mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt: lần đầu tiên con cháu họ Đỗ (Đậu) từ nhiều vùng miền tự nguyện ngồi lại với nhau, cùng chung một mục tiêu vì dòng tộc. Cuộc họp do Phó Giáo sư Đỗ Tòng (họ Đỗ Kim Quan, Hà Tây) và một số cụ đề xuất khởi xướng, rồi thành lập ra Ban liên lạc họ Đỗ toàn quốc. Đây đều là các bậc trí thức, trưởng lão tiêu biểu cho tinh thần “Vì họ tộc”. Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam được thành lập.
Từ sự đồng thuận cao, Phó Giáo sư Đỗ Tòng được tín nhiệm bầu làm Trưởng ban. Đây không chỉ là sự kiện tổ chức, mà là bước ngoặt về nhận thức: biến truyền thống từ trong sách vở sang hành động cụ thể. Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam ngay từ đầu đã xác định rõ tôn chỉ: hoạt động hoàn toàn tự nguyện, phi lợi nhuận, không ràng buộc hành chính, lấy đạo nghĩa và trách nhiệm làm nền tảng. Chính tinh thần trong sáng ấy đã tạo nên sức lan tỏa bền bỉ.
Mười năm đầu tiên (1997-2007) là giai đoạn đầy thử thách nhưng cũng giàu ý nghĩa nhất. Dưới sự dẫn dắt của Phó Giáo sĐỗ Tòng, Ban Liên lạc đã tập trung vào hai nhiệm vụ cốt lõi: khảo cứu lịch sử dòng họ và xác lập không gian tâm linh chung của họ Đỗ Việt Nam. Điều đó đã thể hiện bằng việc làm cụ thể, như:
- Xuất bản sách “Họ Đỗ Việt Nam” tập I (2001) và tập II (2004) – những công trình có giá trị khoa học và tư liệu, góp phần hệ thống hóa lịch sử họ Đỗ từ huyền sử đến cận đại.
- Ra đời “Thông tin việc họ Đỗ Việt Nam” (số 1 – tháng 1/2002), tạo kênh kết nối thông tin giữa các chi họ.
- Thống nhất lấy ngày 8/4 âm lịch hằng năm là Ngày tưởng niệm Tổ tiên họ Đỗ Việt Nam – một quyết định mang ý nghĩa văn hóa – tâm linh sâu sắc.
- Công bố biểu trưng và con dấu Ban Liên lạc họ Đỗ Việt Nam, tạo nhận diện chung cho cộng đồng dòng họ.
- Lập kế hoạch tu sửa miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, xây dựng mộ Bát bộ Kim Cương tại gò Thiềm Thừ (từ năm 2003).
- Xây dựng Website hodovietnam.vn (2006) – bước đi sớm trong việc ứng dụng công nghệ để kết nối dòng họ.
Đây là giai đoạn “lặng lẽ mà sâu lắng”, đặt những viên gạch đầu tiên cho một công trình dài hơi, nơi lịch sử, tâm linh và hiện đại bắt đầu hội tụ.
Những giai đoạn tiếp theo, (2007 – 2016), dưới sự lãnh đạo của Ban liên lạc, Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tổ chức dòng họ từng bước được củng cố, mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng. Những hoạt động tiêu biểu trong giai đoạn này cần kể tới: Tổ chức thi chọn Đỗ ca, Huy hiệu họ Đỗ Việt Nam, Văn tế liệt vị Tổ tiên –góp phần chuẩn hóa nghi lễ và biểu đạt tinh thần dòng họ.
- Thành lập các câu lạc bộ: CLB Tuổi trẻ họ Đỗ (Đậu), CLB Doanh nhân họ Đỗ (Đậu) Việt Nam; CLB Văn hóa – Nghệ thuật họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tạo không gian sinh hoạt đa dạng cho các thế hệ.
- Tiếp nhận bàn giao miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát từ họ Nguyễn Vân (2012) và tiến hành xây dựng, tôn tạo miếu mộ năm 2013. - Lễ bàn giao và cắm mốc giữ nguyên trạng khu mộ Bát bộ Kim Cương (5/2012).
- Lập quy hoạch tổng thể và tôn tạo Khu Mộ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam (2012–2013): tôn cao gò Thiềm Thừ, phục chế bia đá, xây dựng không gian hành lễ trang nghiêm.
- Đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Thành phố cho Khu Mộ Tổ tại phường Phú La, Hà Đông (10/9/2016).
Giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của tổ chức họ Đỗ – từ kết nối tinh thần sang kiến tạo giá trị bền vững cho cộng đồng và xã hội.
Hướng tới tương lai bền vững
Bước vào giai đoạn mới, từ 2016 đến nay dưới sự điều hành của các ông Đỗ Văn Kiện và Đỗ Văn Trắc – Chủ tịch Hội đồng họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, tầm nhìn của dòng họ được mở rộng theo hướng dài hạn, bền vững và thích ứng với thời đại. Nhiều công việc có ý nghĩa chiến lược đã và đang được triển khai:
- Mua nhà đất làm Nhà thờ Tổ họ Đỗ Việt Nam tại Hà Nội; Mua nhà đất liền kề miếu mộ Hương Vân Cái Bồ Tát, tạo không gian tâm linh đồng bộ.
- Tôn tạo Khu Mộ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam lần thứ hai, bảo đảm gìn giữ lâu dài; Mua đất, xây dựng Nhà thờ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam phía Nam, đáp ứng nguyện vọng con cháu khu vực Nam Bộ.
- Thành lập CLB Con gái và Con dâu họ Đỗ (Đậu) Việt Nam, mở rộng tinh thần đoàn kết, bao dung và bình đẳng trong sinh hoạt dòng họ.
Đây là giai đoạn của sự hội tụ trí tuệ và tâm huyết, thể hiện rõ ý chí: gìn giữ truyền thống nhưng không khép kín; tôn vinh dòng họ nhưng luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc. Hành trình hơn hai thập kỷ xây dựng và phát triển tổ chức họ Đỗ (Đậu) Việt Nam là minh chứng sinh động cho sức mạnh của tự nguyện – đoàn kết – trách nhiệm. Đó không phải là hành trình của một vài cá nhân, mà là kết tinh tâm huyết của nhiều thế hệ, tiếp nối mạch nguồn ngàn năm của dòng họ trong dòng chảy chung của đất nước.
Từ quá khứ linh thiêng đến hiện tại năng động, họ Đỗ (Đậu) hôm nay đang từng bước khẳng định một giá trị cốt lõi: tự hào về nguồn cội để sống tốt hơn cho hiện tại, đoàn kết vì dòng họ để phụng sự Tổ quốc!.
.............................
(*) Nước Xích Quỷ - vua Kinh Dương Vương (2879 - 2524) Trước công nguyên.
(**) Lộc Tục sinh ra Sùng Lãm (Lạc Long Quân) lấy Âu Cơ sinh bọc 100 trứng nở ra 100 người con trai, tiếp đến các vua Hùng. (Theo sách họ Đỗ (Đậu) Việt Nam)
Các nội dung trong bài viết này được trình bày trên cơ sở phân biệt giữa chính sử, truyền thuyết dân gian và ngọc phả – gia phả truyền lưu trong cộng đồng dòng họ. Những nhân vật và sự kiện thuộc lớp huyền sử phản ánh nhận thức, niềm tin và ký ức văn hóa của người Việt qua nhiều thế hệ, không đồng nhất với các dữ kiện lịch sử đã được kiểm chứng bằng tư liệu chính thống. Việc ghi chép nhằm bảo tồn giá trị văn hóa – tinh thần và phục vụ nghiên cứu, không mang tính khẳng định lịch sử tuyệt đối.
ĐỖ VĂN TÂN
Bình luận
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
LỜI TRI ÂN KHI TẾT ĐẾN XUÂN VỀ VỚI LƯƠNG Y TÂM NGUYỄN Chào Xuân Bính Ngọ - 2026
Trong những năm qua, Tạp chí Tinh hoa Đất Việt đã có dành thời lượng phản ánh, giới thiệu về Lương y Tâm Nguyễn – người kế thừa và...
Lương y Nguyễn Thị Tâm (Tâm Nguyễn) cùng bệnh nhân Việt kiều Mỹ về quê tri ân và trao quà hỗ trợ bà con khó khăn tại Hà Tĩnh
Mới đây, Lương y Tâm Nguyễn đã cùng một bệnh nhân Việt kiều Mỹ trở về quê hương trong chuyến đi mang nhiều ý nghĩa nhân văn: tri ân...
An Cốt Thông – “trợ thủ đắc lực mới” chăm sóc xương khớp từ thảo dược thiên nhiên của Hana Y Group
Mới đây, Hana Y Group chính thức ra mắt sản phẩm con lăn xương khớp An Cốt Thông, được nghiên cứu và phát triển trên nền tảng Nam dược...
ĐÀO ANH TUẤN – THỔI HỒN LỬA VÀO GỐM KIM LAN
Làng gốm Kim Lan, mảnh đất bên bờ sông Hồng đã đi qua hơn một nghìn năm lịch sử, nơi đất và lửa kết tinh thành nghề, thành nghiệp,...