Điện thoại:092.8846879 - 092.8846879

Sự kiện - bình luận

Từ Tuyên ngôn Độc lập đến Di chúc của Người

Thứ tư , 02/09/2026 | 12:49 GMT+7
    Ngày Quốc khánh luôn là một ngày lễ lớn đối với mọi quốc gia trên thế giới. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, ngày Quốc khánh còn trọng đại hơn gấp nhiều lần. Bởi Quốc khánh là ngày toàn dân Việt Nam tưởng nhớ đến vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
    Ngày 2/9/1945 đánh dấu một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Kỷ niệm ngày Quốc khánh 24 năm sau – 2/9/1969 (tức ngày 21/7 âm lịch), Người trở về cõi vĩnh hằng; một khoảnh khắc linh thiêng lạ kỳ như để nhắc chúng ta: Bác Hồ – Người đã hiến cuộc đời mình cho Tổ quốc, đã hóa thân vào Tổ quốc và dân tộc, Người sẽ luôn sống mãi trong trái tim mỗi người Việt Nam và trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc ta.
    Ngày 2/9 năm nay trùng với ngày 21/7 âm lịch, kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh cũng trùng với kỷ niệm 57 năm ngày mất của Bác – 57 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện Di chúc của Bác Hồ. Lịch sử dường như được tái hiện trong thời khắc đặc biệt này: Từ Tuyên ngôn Độc lập đến Di chúc của Người, một hành trình vinh quang của toàn dân tộc.
    Năm 1911, khi Tổ quốc đang rên xiết trong vòng nô lệ của thực dân Pháp, từ Bến Nhà Rồng, Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với khao khát: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Chính tình yêu Tổ quốc đã đưa Người đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin. Tháng 7/1920, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo, Người đã thốt lên trong hạnh phúc: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
    Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã có Đảng Cộng sản dẫn đường. Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trải qua biết bao gian nguy, thử thách, đầu xuân 1941, Người đem theo ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lênin trở về nước, trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

                   
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 308 trước khi về tiếp quản Thủ đô – Ảnh chụp tại Đền Hùng (Phú Thọ), 19/9/1954
 
    Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng trong toàn quốc ngày càng lớn mạnh. Tháng 8/1945, khi thời cơ chín muồi, đồng bào cả nước đã nổi dậy Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công. Từ Tân Trào (Tuyên Quang), Người về thủ đô Hà Nội để chuẩn bị cho những giây phút trọng đại của toàn dân tộc. Ngày 28/8/1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, những khoảnh khắc vui sướng nhất trong đời cầm bút của Người đã đến: thời khắc Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập.
    Bản Tuyên ngôn Độc lập là niềm khao khát của nhân dân ta suốt hơn 80 năm trời sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, là kết tinh thành quả 15 năm bền bỉ lãnh đạo Cách mạng của Đảng ta, là tâm huyết của Người suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định những quyền lợi cơ bản mà bất cứ con người nào cũng xứng đáng được nhận. Tuyên ngôn cũng đã nêu lên những tội ác không thể chối cãi của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta. Để thoát khỏi ách áp bức, đô hộ đó, “nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Người Việt Nam đổ máu trên chính đất nước Việt Nam để giành lấy độc lập cho mình là cuộc chiến vì chính nghĩa. Chính vì vậy, nhân dân Việt Nam xứng đáng được hưởng những quyền lợi cơ bản của mỗi con người.

                    
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là chân lý lịch sử khẳng định ý chí kiên định và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
 
    Buổi chiều ngày 2/9/1945, trên lễ đài độc lập tại Quảng trường Ba Đình, thay mặt cho Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lời tuyên bố ấy như một “lời thề độc lập” đã in đậm trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam và còn nguyên giá trị cho đến hôm nay. Ngay sau ngày Độc lập, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bắt tay vào thực hiện lời thề thiêng liêng ấy.
    Trước tình cảnh nền độc lập vừa giành được mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”, ngày 3/9/1945, Người viết Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà trước mắt là làm sao giải quyết giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Người tin tưởng “với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công”.
       Ngày 23/9/1945, liên quân Anh – Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn. Với mong muốn bảo vệ nền độc lập non trẻ của Việt Nam bằng các biện pháp hòa bình, ngày 31/5/1946, Người lên đường sang Pháp để đàm phán, thương thuyết với Chính phủ Pháp về tương lai hai nước, về hòa bình của Việt Nam. Tại Pháp, Người tham gia rất nhiều hội nghị lớn nhỏ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới với cách mạng Việt Nam. Ngày 2/9/1946, trong đại lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở giữa thủ đô Paris của Pháp, Người đã trân trọng đọc bài diễn văn, trong đó có đoạn: “Tôi xin long trọng bày tỏ sự kính trọng đối với nhân dân Việt Nam anh dũng của chúng ta, đã nêu cao lý tưởng dân chủ và đã không lùi bước trước bất kỳ sự hy sinh nào để bảo vệ tự do của mình. Nguyện vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được”.
    Việc đàm phán hòa bình với Chính phủ Pháp không thành công, Người cùng một số chí sĩ yêu nước trở về Việt Nam chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Ngày 19/12/1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!… Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”.
    Sau lời kêu gọi ấy, Trung ương Đảng và Chính phủ rút về Chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Lời thề của ngày độc lập tiếp tục được thực hiện thông qua nhiều chiến dịch quan trọng: Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, Chiến dịch Hòa Bình 1951 – 1952, Chiến dịch Tây Bắc 1952, chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954…
Trong Chiến dịch Biên giới 1950, Bác Hồ đã lên đường ra mặt trận trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Trên đường lên đài quan sát tại đỉnh núi Báo Đông, Người đã để lại những câu thơ tràn đầy khí thế, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các chiến sĩ ngoài mặt trận:
Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy
”.

    Tại chiến khu, Người đã nhiều lần viết Lời kêu gọi gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 để tổng kết lại thành quả cách mạng, khắc sâu lời thề độc lập, khơi dậy tinh thần yêu nước và vạch ra nhiệm vụ mới cho cách mạng.
     Ngày 2/9/1947, Người khẳng định: “Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy năm, để đánh tan ách nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công”.
    Ngày 2/9/1948, Người viết: “Hôm nay chúng ta độc lập đã 3 năm. Mà cũng đã 3 năm chúng ta kháng chiến. Dù phải kháng chiến 5 nǎm, 10 nǎm, hay là lâu hơn nữa, để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và hạnh phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng. Thà 5, 10 năm hi sinh cực khổ, còn hơn làm nô lệ muôn đời”.
    Ngày 19/8/1949, Người tiếp tục khẳng định: “Chúng ta quyết hy sinh cực khổ để cho nước nhà độc lập, thống nhất và con cháu ta được hưởng tự do, hạnh phúc muôn nghìn đời về sau”.
    Trong Lời kêu gọi ngày 19/8/1950, Người đã đưa ra nhận định sáng suốt: “Từ ngày bắt đầu chiến tranh, Mỹ đã ra sức giúp giặc Pháp. Nhưng hiện nay Mỹ tiến lên một bước: trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Thế là ngày nay ta đã có một kẻ địch chính là giặc Pháp lại thêm một kẻ địch nữa là bọn can thiệp Mỹ. Ta còn phải kinh qua nhiều sự khó khăn cực khổ hơn trước, còn phải vượt qua nhiều gian nan nguy hiểm hơn trước, để đi đến thắng lợi hoàn toàn”.
    Ngày 19/8/1951, Người viết: “Năm nay chúc mừng ngày Độc lập chúng ta phải nhớ ơn những chiến sĩ đã hy sinh cho cách mạng để tranh lại độc lập, đang kháng chiến anh dũng để giữ gìn độc lập… Chiến sĩ ta vui vẻ hy sinh xương máu, đồng bào ta vui vẻ hy sinh mồ hôi nước mắt, vì ai cũng biết đó là hy sinh cho quyền lợi tối cao của Tổ quốc, của nhân dân, hy sinh cho hạnh phúc tương lai của con cháu, giống nòi”.
    Xuyên suốt những lời kêu gọi ấy, lời thề độc lập luôn được Bác nhắc lại, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng của bậc vĩ nhân, Người đã đưa cả dân tộc bước lên một nấc thang mới: Chiến đấu không chỉ vì độc lập, tự do của người đang sống mà vì độc lập, tự do của con cháu muôn đời sau.
    Khi kháng chiến chống Pháp chuyển dần sang tổng phản công, ngày 2/9/1953, Người viết: “Chúng ta vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày độc lập. Độc lập này là do 80 năm phấn đấu oanh liệt của nhân dân ta mà tranh được. Là do 8 năm anh dũng kháng chiến của nhân dân ta mà giữ vững… Đảng và Chính phủ kiên quyết lãnh đạo và đoàn kết nhân dân kháng chiến đến cùng, tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám, giữ vững thống nhất và độc lập của Tổ quốc”.
    Vào cuối năm 1953 đến đầu năm 1954, nhận thấy thời cơ tổng phản công đã đến, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ – tấn công thẳng vào cứ điểm mạnh nhất của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Sau 56 ngày đêm gian khổ chiến đấu và anh dũng hy sinh, quân và dân ta đã đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, nắn chỉnh lại dòng chảy lịch sử nhân loại. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động Địa Cầu chính là tiếng chuông báo tử cho hệ thống thực dân cũ, cũng là tiếng chuông thức tỉnh những dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập cho chính mình.

                    
Hình ảnh Bác Hồ trong kháng chiến chống Pháp – Ảnh chụp tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Bình Thuận
 
    Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ vào ngày 20/7/1954 về lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhưng chưa được bao lâu, thì đế quốc Mỹ ngang nhiên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam và xâm lược các nước ở Đông Dương và Đông Nam Á. Chính đế quốc Mỹ chứ không phải ai khác đã viện trợ cho thực dân Pháp xâm lược nước ta. Khi thực dân Pháp thất bại, Mỹ từng bước hất cẳng Pháp để độc chiếm Đông Dương. Nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài tới 21 năm – một cuộc chiến vô cùng ác liệt, đúng như nhận định của Bác Hồ từ năm 1950.
    Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, lời thề của ngày độc lập được Bác Hồ nhắc đến trong nhiều bài viết, bài nói và trong nhiều dịp kỷ niệm, đặc biệt là kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh.
    Ngày 22/7/1954, sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công, Người kêu gọi: “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí”.
    Ngày 2/9/1954, Người viết: “Mục đích kháng chiến là để giữ lấy và phát triển những thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, tức là hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ”.
    Trong bài viết Gia đình gương mẫu ngày 27/5/1955, Người chỉ ra: “Gia đình không gì quý hơn con. Loài người không gì quý bằng Tổ quốc. Những gia đình có bao nhiêu con đều hiến cả cho Tổ quốc là những gia đình gương mẫu vẻ vang. Dân tộc có những gia đình như vậy thì nhất định tự do độc lập… Tấm lòng tuyệt vời yêu nước của những gia đình gương mẫu ấy làm cho dân tộc ta càng thêm vẻ vang”.
    Ngày 2/9/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời kêu gọi trong buổi lễ mừng Quốc khánh lần thứ 10. Người khẳng định đanh thép: “Mặc dù những âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, vì nước ta là một khối, không ai chia cắt được. Tổng tuyển cử tự do sẽ phải được thực hiện, vì đó là nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân ta từ Bắc đến Nam, mà cũng là sự mong muốn chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”.
    Hai năm sau, vào ngày 2/9/1957, trong bài diễn văn nhân kỷ niệm ngày Quốc khánh lần thứ 12, Người nói: “Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất, Nam – Bắc một nhà, không một lực lượng phản động nào có thể chia cắt được. Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất”.
    Vào năm 1960, nhân dịp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tròn 15 tuổi, Người viết: “Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng được miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên. Bởi vậy không thể nào tách rời cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thống nhất nước nhà với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ”.
    Ngày 2/9/1961, trả lời phóng viên thường trú của báo Nhân đạo tại Hà Nội, Người nói: “Nhân dân nước chúng tôi có ý chí phi thường là do lòng tự trọng muốn sống làm người chứ không chịu làm nô lệ”.
    Trong tuyên bố ngày 29/8/1963, Người viết: “Chính do tội ác của Mỹ – Diệm mà đồng bào miền Nam ta suốt 9 năm nay bị cảnh lửa bỏng nước sôi, mà Tổ quốc ta bị tạm thời chia cắt… Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi đế quốc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Vấn đề miền Nam phải do nhân dân miền Nam tự giải quyết”.
    Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt diễn ra từ ngày 27 đến ngày 28 tháng 3 năm 1964, Người nói: “Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi. Mọi người chúng ta, bất kỳ ai, làm việc gì, ở cương vị nào, đều phải là những chiến sĩ dũng cảm của sự nghiệp vẻ vang ấy”.
    Ngày 18/8/1965, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Quốc khánh, Người viết: “Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam hiện nay chẳng những nhằm bảo vệ quyền lợi dân tộc thiêng liêng của mình mà còn góp phần vào bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Châu Á và thế giới. Dù chúng phái thêm bao nhiêu quân đội, đế quốc Mỹ xâm lược nhất định cũng sẽ hoàn toàn thất bại. Nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi vẻ vang. Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng. Nước Việt Nam nhất định sẽ được hòa bình thống nhất. Đó là quyết tâm đanh thép, đó là lòng tin sắt đá của 31 triệu nhân dân Việt Nam chúng tôi trong cuộc đấu tranh thiêng liêng chống Mỹ cứu nước”.
    Ngày 17/9/1965, trong bài báo Thật là vẻ vang, Người viết: “Chúng ta quyết thừa kế và phát triển lịch sử vẻ vang của tổ tiên ta mấy nghìn năm về trước và nêu gương dân tộc anh hùng cho con cháu ta muôn vàn đời về sau. Dù phải hy sinh, gian khổ mấy, chúng ta cũng quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để giành lại độc lập thật sự và hòa bình lâu dài”.
    Sang năm sau, vào ngày 17/7/1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra rất ác liệt, Người ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng cướp nước ta,… Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hóa học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta… song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” – Lời khẳng định của Người đã nâng tầm lời thề độc lập lên một tầm cao mới, vô cùng ngắn gọn nhưng vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt.
    Ngày 6/9/1967, trong Thư gửi luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Người viết: “Dân tộc Việt Nam ta, Tổ quốc Việt Nam ta rất tự hào về miền Nam anh hùng, Thành đồng của Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam ta quyết chiến đấu cho đến lúc không còn bóng của xâm lược Mỹ trên đất nước thân yêu của mình. Dù giặc Mỹ hung ác đến đâu, sức mạnh đoàn kết vĩ đại của chúng ta nhất định sẽ đánh thắng chúng”.
    Trong Lời kêu gọi nhân ngày 20/7/1968, Người nêu rõ âm mưu xảo trá của đế quốc Mỹ: “Với chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được ký kết, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta. Song đế quốc Mỹ hiếu chiến phản bội lời cam kết của chúng, đã phá hoại trắng trợn hiệp định Giơnevơ”.
    Người nhấn mạnh tính chính nghĩa cuộc kháng chiến của nhân dân ta: “Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trên đất nước ta hiện nay là một cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử loài người… Dân tộc Việt Nam ta đang tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình. Vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của cả loài người tiến bộ, chúng ta đang chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù hung ác nhất trên thế giới. Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và tàn bạo.

 
Đế quốc Mỹ nhất định thua! Nhân dân ta nhất định thắng!
Đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng hái tiến lên!

    Năm 1969, cũng trong Lời kêu gọi nhân ngày 20/7, Người tiếp tục khẳng định quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của nhân dân ta. Bởi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nên dù Mỹ có “tăng cường đánh phá bằng máy bay B52 và chất độc hóa học” hay “điên cuồng ném bom phá hủy làng mạc, thành thị, tàn sát đồng bào ta, gây thêm nhiều tội ác vô cùng man rợ” thì “Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà”.
    Mang theo Lời thề độc lập, mang theo hình ảnh miền Nam trong trái tim, Người mong được vào miền Nam để động viên, thăm hỏi đồng bào và chiến sĩ miền Nam trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất. Nhưng mong ước của Người chưa kịp thực hiện thì ngày 2/9/1969, Người về với thế giới vĩnh hằng – một ngày đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa, cả dân tộc ta tiếc thương Người.
    Dường như biết trước được thời khắc sinh tử của mình, kể từ năm 1965, vào mỗi dịp sinh nhật, Người dành thời gian để viết một tài liệu “tuyệt đối bí mật”, mà Người gọi là “mấy lời để lại”. Đó chính là bản Di chúc thiêng liêng đã trở thành Bảo vật quốc gia – là di sản tinh thần vô giá Người để lại cho dân tộc và nhân loại.
    Chưa có vị lãnh tụ nào trên thế giới để lại Di chúc như Hồ Chí Minh, một bản Di chúc chan chứa tình yêu thương cho mọi kiếp người: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.
    Với tầm nhìn vĩ đại, Người đã đúc kết và vạch ra những việc cần làm để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. “Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Bác Hồ – Người sáng lập ra Đảng ta đã dặn lại mấy lời thật giản dị, sâu sắc, trở thành kim chỉ nam cho biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên.
    Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Người khẳng định rằng: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.
    Càng đọc những lời Người để lại, càng thấy Người vĩ đại biết bao nhiêu. Chính Người đã thực hiện lời thề độc lập cho đến hơi thở cuối cùng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Khi biết thời gian không còn nữa, Người đã để lại những lời tâm huyết cho các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục thực hiện lời thề của ngày độc lập 81 năm về trước: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

                    
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” – Ảnh chụp tại Đền thờ Bác Hồ trên núi Tản Viên
 
    Nhìn lại hành trình từ khi Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập – áng văn lập quốc vĩ đại – cho đến bản Di chúc kết tinh tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người, chúng ta thấy được sự nhất quán trong tư tưởng, tinh thần của một con người vĩ đại đã hiến cả đời mình cho dân tộc. Theo dấu chân của Bác, lớp lớp cha anh đi trước đã hy sinh biết bao máu xương, đã dành trọn cả cuộc đời thực hiện Lời thề độc lập và Di chúc của Người, để cho con cháu được hưởng hòa bình, độc lập hôm nay. Bởi ông cha ta hiểu rất rõ: không giữ được độc lập, sẽ chẳng có tự do, sẽ không thể mưu cầu hạnh phúc.
    Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đứng trước những thách thức mới: tình hình kinh tế, chính trị thế giới nhiều biến động khó lường, chiến lược “diễn biến hòa bình”, lối sống chủ nghĩa cá nhân xuất hiện, tình trạng nhạt phai lý tưởng trong giới trẻ, sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận trong xã hội,… chúng ta càng thấm thía những lời dạy còn nguyên giá trị của Người, chúng ta càng thêm kính yêu và khâm phục Người, bởi những lời Người đã viết trong Tuyên ngôn Độc lập và Di chúc chính là hành trang vững vàng cho dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới.
    Kỷ niệm 81 năm ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, 57 năm Người đi xa, 57 năm thực hiện Di chúc của Người, mỗi người Việt Nam chúng ta nguyện học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại, nguyện đi theo con đường Bác Hồ đã chọn – quyết tâm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN như mong nguyện của Người.
Lê Thị Hải Yến
Bình luận

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Phường Việt Hưng sau một năm vận hành chính quyền hai cấp: Vận hành thông suốt, phục vụ người dân hiệu quả

    Mỗi sự chuyển đổi trong tổ chức bộ máy hành chính đều hướng tới một mục đích duy nhất: sự hài lòng của người dân và sự...

khai trương Văn phòng Tư vấn Kiến trúc Phong thủy của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Kiến trúc Phong thủy

 Lễ khai trương Văn phòng Tư vấn Kiến trúc Phong thủy của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Kiến trúc Phong thủy tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn...

Quy hoạch Đô thị - Nông thôn kỷ nguyên mới: Lấy bản sắc văn hóa thuần Việt làm gốc để phát triển bền vững

    Trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, làm thế nào để các đô thị không trở thành những khối bê...

Đánh thức tài năng âm nhạc đích thực: Cuộc thi Giọng hát trẻ toàn quốc 2026 ưu tiên giọng ca "mộc"

    Nhằm tìm kiếm những giọng ca thuần khiết và tạo dựng một sân chơi bình đẳng cho thế hệ trẻ, cuộc thi Giọng hát trẻ toàn quốc 2026 đã...

KẾT NỐI DOANH NHÂN HOÀNG HUỲNH VIỆT NAM: DẤU ẤN GIAO THƯƠNG THIẾT THỰC TẠI THỦ ĐÔ.

    Sáng  ngày 22/5/2026, Hội Doanh nhân Hoàng Huỳnh Việt Nam đã tổ chức thành công Chương trình tham quan và kết nối giao thương lần...