Văn hoá phát triển
GẶP NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH TỰ TAY CHÔN CẤT MƯỜI ĐỒNG ĐỘI
Thứ ba ,
18/08/2026 |
10:05 GMT+7
Gần sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng ký ức về buổi chiều 21/4/1968 vẫn nguyên vẹn trong tâm trí cựu chiến binh Đỗ Hữu Thuận. Ông là một trong những người trở lại hiện trường, tự tay chôn cất mười đồng đội hy sinh giữa miền rừng Phú Giáo tỉnh Bình Dương (nay là Tp.Hồ Chí Minh). Suốt nhiều thập niên, người lính trinh sát năm xưa vẫn đau đáu một lời hẹn: tìm lại đồng đội, đưa các anh trở về quê mẹ.
1. Cuộc gặp sau một lần… nhầm hẳn thành phố
Chiều muộn, sau khi tạm biệt gia đình bà Lê Thị Nha – vợ Liệt sĩ Lê Đình Tế, đồng đội của ông Thuận – chúng tôi ngược xe từ Thanh Hóa ra Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tìm gặp cựu chiến binh Đỗ Hữu Thuận theo lời giới thiệu của doanh nhân Bùi Kiều Ly, chị y đang ở Sài Gòn.
Theo hẹn, khoảng 17 giờ, bốn anh em sẽ có mặt tại nhà ông. Qua điện thoại, giọng ông Thuận vẫn oang oang, chỉ đường rành rọt: “Qua cầu, đến ngã năm, đi nửa vòng xuyến rồi rẽ vào đường Nguyễn Tất Thành. Đi chừng hai trăm mét là tới ngõ 25, nhà số 12. Tôi đứng đầu ngõ chờ các cháu!”.
Đường Nguyễn Tất Thành có đây, ngõ 25 cũng đúng. Chúng tôi cho xe chạy vào, chạy ra mấy lượt mà chẳng thấy bóng dáng ông Thuận. Người trên xe liên tục gọi điện; người dưới đường ngó nghiêng từng số nhà. Điện thoại nóng ran, trong khi ở đầu dây bên kia, ông Thuận sốt ruột: “Tôi đợi các cháu cả tiếng đồng hồ rồi. Đứng mỏi cả chân đây này!”.
Đúng lúc ấy, tôi ngẩng nhìn tấm biển của cửa hàng đồ điện nơi đầu ngõ. Hai chữ “Vĩnh Yên” hiện ra rõ ràng. Thì ra, chúng tôi đã tìm đúng đường Nguyễn Tất Thành, đúng ngõ 25, nhưng lại ở… thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cũ; còn nhà ông Thuận ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ!
Cả nhóm nhìn nhau rồi bật cười. Tay máy Hoàng Tuấn mở bản đồ, kêu lên: “Úi chà, Việt Trì còn gần bốn mươi cây số nữa cơ!”. Tôi đành gọi lại, lí nhí xin lỗi vì đã “nhầm hẳn một thành phố”. Đầu dây bên kia im lặng vài giây, rồi ông Thuận bật cười: “Thôi, cứ đi tiếp đi. Tôi chờ!”.
Khi chúng tôi đến nơi, mặt trời đã gần khuất. Từ đầu ngõ, một người đàn ông dáng nhỏ, mái tóc bạc bước nhanh ra đón. Căn nhà cấp bốn bỗng rộn tiếng nói cười; chuyện “nhầm thành phố” khiến mọi mệt mỏi sau quãng đường dài dường như tan biến. Nhưng ánh sáng ngoài vườn đang nhạt dần. Chúng tôi xin phép dựng máy quay, ghi hình trước khi trời tối. Và cũng từ lúc ấy, không khí trong căn nhà chùng xuống.
Chiều muộn, sau khi tạm biệt gia đình bà Lê Thị Nha – vợ Liệt sĩ Lê Đình Tế, đồng đội của ông Thuận – chúng tôi ngược xe từ Thanh Hóa ra Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tìm gặp cựu chiến binh Đỗ Hữu Thuận theo lời giới thiệu của doanh nhân Bùi Kiều Ly, chị y đang ở Sài Gòn.
Theo hẹn, khoảng 17 giờ, bốn anh em sẽ có mặt tại nhà ông. Qua điện thoại, giọng ông Thuận vẫn oang oang, chỉ đường rành rọt: “Qua cầu, đến ngã năm, đi nửa vòng xuyến rồi rẽ vào đường Nguyễn Tất Thành. Đi chừng hai trăm mét là tới ngõ 25, nhà số 12. Tôi đứng đầu ngõ chờ các cháu!”.
Đường Nguyễn Tất Thành có đây, ngõ 25 cũng đúng. Chúng tôi cho xe chạy vào, chạy ra mấy lượt mà chẳng thấy bóng dáng ông Thuận. Người trên xe liên tục gọi điện; người dưới đường ngó nghiêng từng số nhà. Điện thoại nóng ran, trong khi ở đầu dây bên kia, ông Thuận sốt ruột: “Tôi đợi các cháu cả tiếng đồng hồ rồi. Đứng mỏi cả chân đây này!”.
Đúng lúc ấy, tôi ngẩng nhìn tấm biển của cửa hàng đồ điện nơi đầu ngõ. Hai chữ “Vĩnh Yên” hiện ra rõ ràng. Thì ra, chúng tôi đã tìm đúng đường Nguyễn Tất Thành, đúng ngõ 25, nhưng lại ở… thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cũ; còn nhà ông Thuận ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ!
Cả nhóm nhìn nhau rồi bật cười. Tay máy Hoàng Tuấn mở bản đồ, kêu lên: “Úi chà, Việt Trì còn gần bốn mươi cây số nữa cơ!”. Tôi đành gọi lại, lí nhí xin lỗi vì đã “nhầm hẳn một thành phố”. Đầu dây bên kia im lặng vài giây, rồi ông Thuận bật cười: “Thôi, cứ đi tiếp đi. Tôi chờ!”.
Khi chúng tôi đến nơi, mặt trời đã gần khuất. Từ đầu ngõ, một người đàn ông dáng nhỏ, mái tóc bạc bước nhanh ra đón. Căn nhà cấp bốn bỗng rộn tiếng nói cười; chuyện “nhầm thành phố” khiến mọi mệt mỏi sau quãng đường dài dường như tan biến. Nhưng ánh sáng ngoài vườn đang nhạt dần. Chúng tôi xin phép dựng máy quay, ghi hình trước khi trời tối. Và cũng từ lúc ấy, không khí trong căn nhà chùng xuống.

Bia tưởng niệm 10 CB,CS E.141 F7 QĐ4 đã anh dũng hy sinh trong trận đánh với Biệt kích Mỹ ngày 21/4/21968
2. Buổi chiều định mệnh giữa rừng cao su
Tôi hỏi về trận phục kích năm xưa. Ông Thuận ngồi lặng đi một lúc lâu. Đôi mắt người lính già hướng về một khoảng xa xăm, như thể trước mặt ông không còn là căn nhà nhỏ ở Việt Trì, mà là cánh rừng cao su miền Đông Nam Bộ gần sáu mươi năm trước.
“Đau lắm! Nhưng chiến tranh là vậy…” – ông bắt đầu kể, chậm rãi, đứt quãng. Ngày 21/4/1968, một đoàn cán bộ, chiến sĩ từ vùng biên Bình Phước được lệnh hành quân bổ sung lực lượng cho Trung đoàn 141, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4, đang chiến đấu trên địa bàn Phú Giáo.
Đội hình lặng lẽ luồn rừng. Ông Thuận khi ấy vóc người nhỏ thó nhưng phải vác đại liên. Chặng đường dài khiến ông thấm mệt, bước chân chậm dần. Cùng ông còn vài người tụt lại phía sau đội hình chính vài chục mét. Bất ngờ, phía trước rộ lên những tràng súng AR-15 chát chúa. Mấy người đi sau lập tức nằm xuống, tìm gốc cây và địa hình che chắn. Một đồng đội khẽ bật lên: “Chết rồi, lọt vào ổ phục kích!”.
Tiếng súng kéo dài rồi thưa dần. Hôm sau trở về đơn vị, nhóm của ông Thuận mới biết đội hình đi trước đã lọt vào trận địa phục kích của quân Mỹ. Mười đồng đội hy sinh. Bản thân ông Thuận cũng bị thương, phải điều trị tại bệnh xá. Thế nhưng, khi nghe đơn vị cử tổ trinh sát trở lại hiện trường làm công tác tử sĩ, ông xin đi bằng được. Ông đã cùng ăn, cùng ở, cùng hành quân và biết rõ từng người.
Trong đêm, ông Thuận cùng tổ trinh sát bí mật lần theo đường cũ. Trước mắt họ là một cảnh tượng đau xót: mười cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh; quần áo, tư trang bị quân địch lấy đi; có đồng chí bị hành hạ, thi thể không còn nguyên vẹn.
Kể đến đây, giọng ông Thuận nghẹn lại. Ông im lặng hồi lâu. Đôi bàn tay gầy guộc đặt trên đầu gối khẽ run. Ký ức tưởng đã lùi xa hơn nửa thế kỷ vẫn có thể trở về, sắc lạnh như tiếng súng giữa miền rừng cao su năm ấy.
Tôi hỏi về trận phục kích năm xưa. Ông Thuận ngồi lặng đi một lúc lâu. Đôi mắt người lính già hướng về một khoảng xa xăm, như thể trước mặt ông không còn là căn nhà nhỏ ở Việt Trì, mà là cánh rừng cao su miền Đông Nam Bộ gần sáu mươi năm trước.
“Đau lắm! Nhưng chiến tranh là vậy…” – ông bắt đầu kể, chậm rãi, đứt quãng. Ngày 21/4/1968, một đoàn cán bộ, chiến sĩ từ vùng biên Bình Phước được lệnh hành quân bổ sung lực lượng cho Trung đoàn 141, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4, đang chiến đấu trên địa bàn Phú Giáo.
Đội hình lặng lẽ luồn rừng. Ông Thuận khi ấy vóc người nhỏ thó nhưng phải vác đại liên. Chặng đường dài khiến ông thấm mệt, bước chân chậm dần. Cùng ông còn vài người tụt lại phía sau đội hình chính vài chục mét. Bất ngờ, phía trước rộ lên những tràng súng AR-15 chát chúa. Mấy người đi sau lập tức nằm xuống, tìm gốc cây và địa hình che chắn. Một đồng đội khẽ bật lên: “Chết rồi, lọt vào ổ phục kích!”.
Tiếng súng kéo dài rồi thưa dần. Hôm sau trở về đơn vị, nhóm của ông Thuận mới biết đội hình đi trước đã lọt vào trận địa phục kích của quân Mỹ. Mười đồng đội hy sinh. Bản thân ông Thuận cũng bị thương, phải điều trị tại bệnh xá. Thế nhưng, khi nghe đơn vị cử tổ trinh sát trở lại hiện trường làm công tác tử sĩ, ông xin đi bằng được. Ông đã cùng ăn, cùng ở, cùng hành quân và biết rõ từng người.
Trong đêm, ông Thuận cùng tổ trinh sát bí mật lần theo đường cũ. Trước mắt họ là một cảnh tượng đau xót: mười cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh; quần áo, tư trang bị quân địch lấy đi; có đồng chí bị hành hạ, thi thể không còn nguyên vẹn.
Kể đến đây, giọng ông Thuận nghẹn lại. Ông im lặng hồi lâu. Đôi bàn tay gầy guộc đặt trên đầu gối khẽ run. Ký ức tưởng đã lùi xa hơn nửa thế kỷ vẫn có thể trở về, sắc lạnh như tiếng súng giữa miền rừng cao su năm ấy.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Doanh thắp hương cho đồng đội
3. Tấm sơ đồ được lập theo trí nhớ
Bất chợt, ông Thuận đứng dậy, bước đến chiếc tủ kê sát tường. Ông lật tìm trong chồng hồ sơ đã ngả màu, rồi cẩn thận mang ra một tờ giấy: “Đây, sơ đồ nơi chôn mười anh em! Sơ đồ này tôi làm năm 2011, khi ấy xã yêu cầu để làm căn cứ cho việc tìm mộ liệt sĩ sau này”.
Trên tờ giấy là những nét vẽ đơn sơ, ghi vị trí hai khu mộ cùng một số dấu hiệu địa hình. Ông chỉ về phía bên trái: “Phía này sát đường mòn năm 1968 – giờ là ngôi nhà cấp bốn của một người dân – chúng tôi chôn năm người”- 2 người ở trong nền nhà này đã được lấy lên đưa về rồi. Ngón tay ông chuyển sang phía bên phải: “Bên này cũng năm người, chính là nền đất sát hiên nhà cô Hiền bây giờ”.
Sau trận phục kích, thi thể đồng đội nằm thành hai tốp, mỗi tốp năm người, gần hai đoạn rãnh ven con đường dân sinh. Trong điều kiện chiến trường vô cùng nguy hiểm, tổ trinh sát buộc phải đào huyệt, chôn cất các anh ngay tại đó và phải làm thật nhanh để rút về đơn vị. Ở lại lâu, nếu địch quay lại phục kích, họ cũng khó thoát.
Dẫu gấp gáp giữa vòng vây nguy hiểm, kinh nghiệm của người lính trinh sát khiến ông Thuận nghĩ đến một việc lâu dài hơn: nếu sau này trở lại, sẽ căn cứ vào đâu để tìm đồng đội? Ông quan sát kỹ khu vực, chọn một “vật chuẩn” là ngôi mộ của người dân được xây khá chắc chắn gần nơi chôn cất các liệt sĩ. Vị trí hai nhóm mộ, con đường, ngôi nhà và ngôi mộ ấy được ông ghi nhớ, rồi thể hiện lại trên sơ đồ.
Chính tấm sơ đồ giản dị cùng trí nhớ của người lính trinh sát đã trở thành đầu mối quan trọng giúp xác định nơi đồng đội nằm lại sau hàng chục năm chiến tranh lùi xa.
Bất chợt, ông Thuận đứng dậy, bước đến chiếc tủ kê sát tường. Ông lật tìm trong chồng hồ sơ đã ngả màu, rồi cẩn thận mang ra một tờ giấy: “Đây, sơ đồ nơi chôn mười anh em! Sơ đồ này tôi làm năm 2011, khi ấy xã yêu cầu để làm căn cứ cho việc tìm mộ liệt sĩ sau này”.
Trên tờ giấy là những nét vẽ đơn sơ, ghi vị trí hai khu mộ cùng một số dấu hiệu địa hình. Ông chỉ về phía bên trái: “Phía này sát đường mòn năm 1968 – giờ là ngôi nhà cấp bốn của một người dân – chúng tôi chôn năm người”- 2 người ở trong nền nhà này đã được lấy lên đưa về rồi. Ngón tay ông chuyển sang phía bên phải: “Bên này cũng năm người, chính là nền đất sát hiên nhà cô Hiền bây giờ”.
Sau trận phục kích, thi thể đồng đội nằm thành hai tốp, mỗi tốp năm người, gần hai đoạn rãnh ven con đường dân sinh. Trong điều kiện chiến trường vô cùng nguy hiểm, tổ trinh sát buộc phải đào huyệt, chôn cất các anh ngay tại đó và phải làm thật nhanh để rút về đơn vị. Ở lại lâu, nếu địch quay lại phục kích, họ cũng khó thoát.
Dẫu gấp gáp giữa vòng vây nguy hiểm, kinh nghiệm của người lính trinh sát khiến ông Thuận nghĩ đến một việc lâu dài hơn: nếu sau này trở lại, sẽ căn cứ vào đâu để tìm đồng đội? Ông quan sát kỹ khu vực, chọn một “vật chuẩn” là ngôi mộ của người dân được xây khá chắc chắn gần nơi chôn cất các liệt sĩ. Vị trí hai nhóm mộ, con đường, ngôi nhà và ngôi mộ ấy được ông ghi nhớ, rồi thể hiện lại trên sơ đồ.
Chính tấm sơ đồ giản dị cùng trí nhớ của người lính trinh sát đã trở thành đầu mối quan trọng giúp xác định nơi đồng đội nằm lại sau hàng chục năm chiến tranh lùi xa.
Doanh nhân Bùi Kiều Ly bên bia tưởng niệm
4. Bốn lần trở lại chiến trường xưa
Vì đồng đội, ông Thuận đã bốn lần trở lại xã An Linh, Phú Giáo cũ – nay là xã An Long, Tp.Hồ Chí Minh. Lần đầu vào năm 1999, khu đất chôn đồng đội đã đổi thay rất nhiều: cây cối không còn rậm rạp, người dân đã dựng nhà trên cả khu vực chôn cất các liệt sĩ. Nhưng nhờ trí nhớ tốt và sự giúp đỡ của các cựu chiến binh, ông vẫn tìm đúng nơi đồng đội mình nằm. Trở về sau chuyến đi ấy, ông gửi thông tin, nhờ tổ chức Hội Cựu chiến binh tại quê của mười đồng đội báo tin cho các gia đình.
Ông Thuận và vợ đều là công nhân Nhà máy điện Yên Phụ nghỉ hưu, cuộc sống không dư dả. Để có tiền đi lại, ông chắt chiu từ đồng lương hưu, dành dụm từng khoản nhỏ. Có lần ông còn giấu vợ bán cả đôi nhẫn cưới làm lộ phí trở lại chiến trường, dựng bia cho đồng đội.
Các năm 2011, 2017 và 2020, ông lại khăn gói trở về Phú Giáo. Từ những chuyến đi ấy, thân nhân của ba liệt sĩ đã tìm được nơi người thân nằm lại. Với sự giúp đỡ của ông Thuận và các cựu chiến binh Sư đoàn 7 như Thiếu tướng Nguyễn Văn Doanh, ông Lương…, hài cốt các anh đã được đưa về quê hương, trở về với đất mẹ. Đó là các liệt sĩ: NGUYỄN XUÂN THIỆN, sinh năm 1935, cấp bậc H1, A phó, quê Phù Đổng, Tiên Sơn, Hà Bắc; HOÀNG THẾ TÚ, sinh năm 1947, H2, A trưởng, quê Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội; LÊ ĐÌNH DẬU, sinh năm 1948, H2, A trưởng, quê Mai Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Hiện vẫn còn bảy liệt sĩ nằm lại nơi đất rừng năm xưa.
Tại khu vực ấy, bà Vũ Thị Xộn và người con dâu tên Hiền đã tự nguyện hiến đất. Với sự chung tay của các cựu chiến binh và người dân địa phương, một tấm bia tưởng niệm được dựng lên, trở thành nơi hương khói cho mười liệt sĩ hy sinh trong trận phục kích ngày 21/4/1968. Tấm bia không chỉ đánh dấu một địa điểm; đó còn là chứng tích của tình đồng đội, lòng biết ơn và sự cưu mang của nhân dân đối với những người lính đã ngã xuống.
Vì đồng đội, ông Thuận đã bốn lần trở lại xã An Linh, Phú Giáo cũ – nay là xã An Long, Tp.Hồ Chí Minh. Lần đầu vào năm 1999, khu đất chôn đồng đội đã đổi thay rất nhiều: cây cối không còn rậm rạp, người dân đã dựng nhà trên cả khu vực chôn cất các liệt sĩ. Nhưng nhờ trí nhớ tốt và sự giúp đỡ của các cựu chiến binh, ông vẫn tìm đúng nơi đồng đội mình nằm. Trở về sau chuyến đi ấy, ông gửi thông tin, nhờ tổ chức Hội Cựu chiến binh tại quê của mười đồng đội báo tin cho các gia đình.
Ông Thuận và vợ đều là công nhân Nhà máy điện Yên Phụ nghỉ hưu, cuộc sống không dư dả. Để có tiền đi lại, ông chắt chiu từ đồng lương hưu, dành dụm từng khoản nhỏ. Có lần ông còn giấu vợ bán cả đôi nhẫn cưới làm lộ phí trở lại chiến trường, dựng bia cho đồng đội.
Các năm 2011, 2017 và 2020, ông lại khăn gói trở về Phú Giáo. Từ những chuyến đi ấy, thân nhân của ba liệt sĩ đã tìm được nơi người thân nằm lại. Với sự giúp đỡ của ông Thuận và các cựu chiến binh Sư đoàn 7 như Thiếu tướng Nguyễn Văn Doanh, ông Lương…, hài cốt các anh đã được đưa về quê hương, trở về với đất mẹ. Đó là các liệt sĩ: NGUYỄN XUÂN THIỆN, sinh năm 1935, cấp bậc H1, A phó, quê Phù Đổng, Tiên Sơn, Hà Bắc; HOÀNG THẾ TÚ, sinh năm 1947, H2, A trưởng, quê Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội; LÊ ĐÌNH DẬU, sinh năm 1948, H2, A trưởng, quê Mai Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Hiện vẫn còn bảy liệt sĩ nằm lại nơi đất rừng năm xưa.
Tại khu vực ấy, bà Vũ Thị Xộn và người con dâu tên Hiền đã tự nguyện hiến đất. Với sự chung tay của các cựu chiến binh và người dân địa phương, một tấm bia tưởng niệm được dựng lên, trở thành nơi hương khói cho mười liệt sĩ hy sinh trong trận phục kích ngày 21/4/1968. Tấm bia không chỉ đánh dấu một địa điểm; đó còn là chứng tích của tình đồng đội, lòng biết ơn và sự cưu mang của nhân dân đối với những người lính đã ngã xuống.

Nhà báo Trần Miêu bên bia tưởng niệm
5. Lời hẹn với bảy người còn nằm lại
Qua sự kết nối của doanh nhân Bùi Kiều Ly và CCB Đỗ Hữu Thuận, thân nhân một số liệt sĩ đã nhận được thông tin về nơi người thân đang yên nghỉ. Hiện có thêm một số gia đình tha thiết mong được hỗ trợ vào thăm mộ, tiến tới thực hiện những thủ tục cần thiết để đón hài cốt liệt sĩ trở về quê hương.
Ở tuổi gần 80, sức khỏe ông Thuận không còn như trước. Sau khi nghỉ hưu, vợ chồng ông chuyển về Việt Trì sinh sống từ hơn chục năm trước, nương tựa vào đồng lương hưu và lối sống cần kiệm. Nỗi đau chiến tranh cũng để lại hệ lụy dai dẳng: người con gái ông bị ảnh hưởng một phần bởi chất độc da cam, sức khỏe và công việc không ổn định; cháu ngoại cũng chịu những tác động nhất định; người con trai đã ngoài bốn mươi tuổi vẫn chưa lập gia đình.
Ông kể chuyện nhà rất thật, không một lời than trách. Điều khiến ông trăn trở nhất vẫn là bảy người đồng đội còn nằm lại ở An Long. Ông nói: “Nếu có người hỗ trợ kinh phí đi lại, tôi vẫn sẵn sàng vào đó. Tôi còn nhớ đường, nhớ vị trí. Khi nào còn đi được, tôi còn muốn giúp các gia đình tìm và đưa anh em về”.
Ngoài sân, bóng tối đã phủ xuống. Trong căn nhà cấp bốn, tờ sơ đồ cũ vẫn nằm trên bàn, dưới bàn tay nhăn nheo của người lính già. Những nét vẽ mộc mạc ấy đang lưu giữ vị trí của bảy con người, bảy cuộc đời, bảy gia đình đã mỏi mòn chờ đợi suốt gần sáu thập niên.
Chúng tôi rời nhà ông Thuận khi phố đã vào đêm. Thầm nghĩ. chiến tranh đã lùi xa, nhưng với những người như cựu chiến binh Đỗ Hữu Thuận, cuộc hành quân dường như vẫn chưa kết thúc. Ba liệt sĩ đã được trở về. Bảy liệt sĩ vẫn còn nằm lại. Và người lính già vẫn giữ lời hẹn năm xưa: khi còn có thể bước đi, ông còn tìm đường trở lại với đồng đội.
Ông kể chuyện nhà rất thật, không một lời than trách. Điều khiến ông trăn trở nhất vẫn là bảy người đồng đội còn nằm lại ở An Long. Ông nói: “Nếu có người hỗ trợ kinh phí đi lại, tôi vẫn sẵn sàng vào đó. Tôi còn nhớ đường, nhớ vị trí. Khi nào còn đi được, tôi còn muốn giúp các gia đình tìm và đưa anh em về”.
Ngoài sân, bóng tối đã phủ xuống. Trong căn nhà cấp bốn, tờ sơ đồ cũ vẫn nằm trên bàn, dưới bàn tay nhăn nheo của người lính già. Những nét vẽ mộc mạc ấy đang lưu giữ vị trí của bảy con người, bảy cuộc đời, bảy gia đình đã mỏi mòn chờ đợi suốt gần sáu thập niên.
Chúng tôi rời nhà ông Thuận khi phố đã vào đêm. Thầm nghĩ. chiến tranh đã lùi xa, nhưng với những người như cựu chiến binh Đỗ Hữu Thuận, cuộc hành quân dường như vẫn chưa kết thúc. Ba liệt sĩ đã được trở về. Bảy liệt sĩ vẫn còn nằm lại. Và người lính già vẫn giữ lời hẹn năm xưa: khi còn có thể bước đi, ông còn tìm đường trở lại với đồng đội.
TRẦN MIÊU
Bình luận
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
LÊ THỊNH – MỘT CHẶNG ĐƯỜNG ĐỂ LẠI GIÁ TRỊ Ở VĨNH QUỲNH
Trong giáo dục, một người hiệu trưởng không được nhớ bởi chiếc ghế mình từng ngồi, mà bởi những gì còn lại khi đã bước xuống....
TRƯỜNG THCS VƯƠNG THỪA VŨ – HỘI TỤ ĐỂ VƯƠN TẦM
Hai mái trường về chung một địa chỉ không chỉ là sự sắp xếp về tổ chức, mà mở ra cơ hội kiến tạo một môi trường giáo dục mới, ...
Khởi công Siêu dự án Đô thị ven sông Hồng tại phường Lĩnh Nam
Dự án Khu đô thị đa mục tiêu và Khu đô thị định cư tại phường Lĩnh Nam chính thức khởi công, đánh dấu bước phát triển quan...
Đánh thức vùng đất di sản qua show thực cảnh
Nằm giữa đại ngàn Tây Bắc, nơi đại ngàn ôm trọn những lòng hồ ngọc bích, Nà Hang (Tuyên Quang) từ lâu đã ẩn chứa những...
Phường Việt Hưng sau một năm vận hành chính quyền hai cấp: Vận hành thông suốt, phục vụ người dân hiệu quả
Mỗi sự chuyển đổi trong tổ chức bộ máy hành chính đều hướng tới một mục đích duy nhất: sự hài lòng của người dân và sự...